vanban.org

Bản án 131/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Minh A.

Chị Trần Thị Minh A và anh Thạch Hoàng B được ly hôn. Về con chung: giao con chung tên Thạch Hoàng C(giới tính: nữ), sinh ngày 15/02/2017 cho chị Trần Thị Minh A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, ghi nhận chị A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Minh A và Thạch Hoàng B"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Minh A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự đây
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2022/HNGĐ-ST
Ngày 24-11-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hòa.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Công Quyền;

2. Bà Võ Thị Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hiên, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Thúy Vi, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 275/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 121/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Minh A, sinh năm 1991; địa chỉ: số nhà Ô1/53b, ấp A1, xã A2, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

- Bị đơn: Anh Thạch Hoàng B, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: ấp B1, xã B2, huyện B3, tỉnh B4; địa chỉ tạm trú: số nhà Ô1/53b, ấp A1, xã A2, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 10 năm 2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Trần Thị Minh A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Thạch Hoàng B kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A2, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh vào ngày 17/02/2016. Vợ chồng chị chung sống thời gian đầu hạnh phúc, khoảng gần 02 năm nay thì bắt đầu mâu thuẫn, lý do anh B không quan tâm vợ con, con bao nhiêu tuổi học lớp mấy anh B cũng không biết, có lần con bệnh nằm viện anh B chỉ lên thăm con nhưng không ở lại phụ chăm con, tiền học và chi phí cho con anh B không quan tâm, chửi mắng vợ con và cha mẹ chị, không tôn trọng cha mẹ chị (dù vợ chồng chị hiện đang sống chung nhà với cha mẹ chị), ngài ra còn đánh đập chị khi chị đang mang thai và chị đã nhiều lần thay anh B trả nợ cho người khác tổng số tiền 7.800.000 đồng do anh B vay tiền để tiêu xài cá nhân. Chị đã nhiều lần cho anh B cơ hội thay đổi để vợ chồng hàn gắn nhưng anh B vẫn vậy. Tuy vợ chồng hiện còn đang sống chung nhà nhưng tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, từ khi chị nộp đơn ly hôn đến nay anh B vẫn không có thiện chí thay đổi nên chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Thạch Hoàng B.

Về con chung: chị và anh Thạch Hoàng B có 01 con chung tên: Thạch Hoàng C(giới tính: nữ), sinh ngày 15/02/2017, chị yêu cầu được trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án – bị đơn anh Thạch Hoàng B trình bày: anh thống nhất với lời trình bày của chị Trần Thị Minh A về quan hệ hôn nhân thời gian vợ chồng chung sống, kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, chỉ mới bắt đầu mâu thuẫn khoảng 06 tháng gần đây, lý do vợ chồng sống cùng nhà với cha mẹ vợ tại ấp A1, xã A2, anh có lớn tiếng chửi mắng mẹ vợ nên từ đó vợ chồng mâu thuẫn với nhau, ngoài ra do anh bận đi làm nên vợ chồng ít quan tâm, nói chuyện với nhau từ đó chị A cho rằng anh không quan tâm vợ con nên vợ chồng có nói qua nói lại. Anh thừa nhận có lỗi thiếu quan tâm vợ con nhưng mong chị A cho anh cơ hội sửa đổi, vợ chồng đoàn tụ, anh cam kết sẽ sửa đổi để vợ chồng cùng chăm lo cho con, về việc anh có lỗi với cha mẹ vợ vì đã lớn tiếng chửi mắng do anh nóng tính không kiểm soát được lời nói, anh sẽ về gặp cha mẹ vợ để xin lỗi, anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị A.

Về con chung: anh và chị Trần Thị Minh A có 01 con chung tên: Thạch Hoàng C(giới tính: nữ), sinh ngày 15/02/2017, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ không ly hôn để cùng lo cho con, trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn anh đồng ý giao con cho chị A trực tiếp nuôi con vì hiện nay anh bận đi làm công nhân tại Công ty Hồng Bảo thuộc Khu Công nghiệp Phước Đông nên không có điều kiện chăm sóc con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Anh B trình bày cháu Thạch Hoàng Cđang học lớp Mầm 3, hiện vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2022, thừa nhận chị A có thay anh trả nợ số tiền 7.800.000 đồng do anh vay tiền để tiêu xài cá nhân, anh cũng chưa xin lỗi cha mẹ vợ.

Chị A trình bày cháu Thư hiện đang học lớp Lá 2 không phải lớp Mầm 3 như anh B trình bày đều đó cho thấy anh B không quan tâm đến vợ con.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Minh A đối với anh Thạch Hoàng B; giao con chung cho chị A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận chị A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết; về án phí tính theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

. Về Thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ tranh chấp: nguyên đơn – chị Trần Thị Minh A khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn – anh Thạch Hoàng B, do bị đơn hiện đang cư trú tại xã A2, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh do đó căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” nên Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý và giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Minh A và anh Thạch Hoàng B chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A2, thị xã Hòa Thành ngày 17/02/2016, nên hôn nhân giữa chị A và anh B là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị A và anh B đều thừa nhận trong thời gian vợ chồng chung sống có mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do anh B không quan tâm đến vợ con, chi phí cho con đi học và sinh hoạt thường ngày đều do chị A và cha mẹ chị A lo, anh B không tôn trọng cha mẹ vợ, ngoài ra chị A có thay anh B trả nợ cho người khác do anh B tiêu xài cá nhân, hiện vợ chồng cũng đã sống ly thân. Anh B mong muốn vợ chồng được đoàn tụ nhưng anh B không có giải pháp hay hành động gì thể hiện thiện chí thay đổi để hàn gắn vợ chồng, tại phiên tòa chị A vẫn kiên quyết được ly hôn. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng hai bên không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo quy định.

Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ; xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Minh A đối với anh Thạch Hoàng B theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: anh Thạch Hoàng B đồng ý giao con chung tên Thạch Hoàng C(giới tính: nữ), sinh ngày 15/02/2017 cho chị Trần Thị Minh A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, ghi nhận chị A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung, nợ chung: chị A và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Trần Thị Minh A phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Minh A.

Chị Trần Thị Minh A và anh Thạch Hoàng B được ly hôn.

2. Về con chung: giao con chung tên Thạch Hoàng C(giới tính: nữ), sinh ngày 15/02/2017 cho chị Trần Thị Minh A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, ghi nhận chị A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Thạch Hoàng B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Trần Thị Minh A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí khởi kiện đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0021041 ngày 14-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; ghi nhận chị A đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ