- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2018/HSST Ngày: 29/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Phượng
2. Ông Lê Văn Ninh
Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Kao Hoàng, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hải Yến, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2018, tại Hội trường UBND phường Quang Vinh thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 132/2018/HSST ngày 02 tháng 3 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131 /2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Vũ C, tên gọi khác: không; sinh ngày 16 tháng 8 năm1969;Nơi cư trú:Tổ 01, phường Q,thành phố T,tỉnh T; Nghề nghiệp: Lái xe ôm;Trình độ văn hóa:12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Đào Vũ Đ, sinh năm 1941 và bà: Dương Thị P, sinh năm 1945; có vợ: Lương Thị Hiền, sinh năm 1971 (Đã ly hôn) có 01 con sinh năm 1992.
-Tiền án: Không.
- Tiền sự: 01. Tại Quyết định số 7565/QĐ - XPHC ngày 17/03/2017, Công an thành phố Thái Nguyên xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
Nhân thân:
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 19/04/2002, Công an phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên xử phạt 100.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 16/05/2002, Công an phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên xử phạt 200.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
+ Tại Quyết định số 5141 ngày 02/08/2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên về việc cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Thái Nguyên trong thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 07/03/2012.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2018 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên
( Có mặt tại phiên toà)
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm:1957, trú tại: Tổ 02, phường T, thành phố T, tỉnh T
( Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 45 phút ngày 22/01/2018, tổ công tác của Công an phường T thành phố T phối hợp cùng đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 01, phường Q, thành phố T phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện liên quan đến chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra đối tượng khai nhận họ tên là Đào Vũ C, sinh năm 1969, trú tại: Tổ 1, phường Q, thành phố T và tự giác giao nộp từ lòng bàn tay trái 01 gói giấy báo bên trong có chứa chất bột màu trắng (C khai đó là Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Đào Vũ C có khối lượng là 0,133 gam và lấy mẫu vật gửi giám định ký hiệu C.
Tại bản Kết luận giám định số 316/ KL – PC54 ngày 26/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong mẫu C thu giữ của Đào Vũ C là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,133 gam.
Tại Cơ quan điều tra Đào Vũ C khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 22/01/2018, C từ nhà của mình đi đến khu vực bến xe khách Thái Nguyên cũ thuộc phường Q, thành phố T để tìm mua ma túy. Tại đây C gặp và mua một gói ma túy của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 100.000 đồng. Khi đi đến khu vực tổ 01, phường Q, thành phố Thái Nguyên thì bị cơ quan Công an phát hiện, C tự giác giao nộp cho cơ quan Công an một gói giấy báo bên trong có chứa chất bột màu trắng. Sau đó, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Lời khai nhận của Đào Vũ C phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu C, bên trong chứa ma túy (Heroine). Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý .
Tại bản cáo trạng số 144/CT-VKSTPTN ngày 28/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đào Vũ C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Đào Vũ C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật năm 2015;
Xử phạt:
Bị cáo Đào Vũ C: Từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu C.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.Lời nói cuối cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Vũ C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đào Vũ C thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 07 giờ 45 phút ngày 22/01/2018, tại tổ 01, phường Q, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Đào Vũ C có hành vi tàng trữ 0,133 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
. Bản cáo trạng số 144/CT-VKSTPTN 28/02/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Đào Vũ C về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy..., thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c, Heroine,… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, có nhân thân rất xấu, là đối tượng nghiện ma túy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, bản thân là người nghiện ma túy, biên bản xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu C là vật cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
.Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
.Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Đào Vũ C khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch địa chỉ tại khu vực bến xe khách Thái Nguyên cũ thuộc phường Q, thành phố Thái Nguyên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
1/ Tuyên bố: Bị cáo Đào Vũ C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Xử phạt Đào Vũ C 18 ( Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 22/01/2018.
- Quyết định tạm giam bị cáo Đào Vũ C 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3/ Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu C.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 184 ngày 01/3/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đào Vũ C phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; -TAND,VKSND tỉnh Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBND phường Q, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Lưu:Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Thị Minh Hải |