vanban.org

Bản án 131/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 28/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ranh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Ranh T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 29 tháng 5 năm 2018). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ranh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ranh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2018/HS-ST
Ngày 28 - 8 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Xuân Hậu

2. Bà Phạm Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lan, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Ranh T, sinh năm 1996 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã TB, huyện TT, tỉnh Thái Bình; nghề nghiê ̣p: Lao đô ̣ng tự do; trình đô ̣ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tô ̣c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con ông Phạm Văn R và bà Phạm Thị C; chưa có vợ; chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 29 tháng 5 năm 2018 đến ngày 01 tháng 6 năm 2018 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; (có mặt)

- Người chứng kiến:

1. Ông Lê Bá Đ, sinh năm 1951; địa chỉ: Đường B, Tổ 11, phường TP, thành phố T, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966; địa chỉ: Đường B, Tổ 09, phường TP, thành phố T, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 5 năm 2018, Phạm Ranh T đi xe buýt từ nhà đến khu vực đường LH thuộc tổ 26, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T đã gặp và mua của 01 người nam giới khoảng 27 tuổi, không biết tên, địa chỉ, đeo khẩu trang, đi xe máy Yamaha Sirius màu trắng (không nhớ biển số), 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Mua xong, T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái đi tìm chỗ sử dụng. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ trên đường LH thuộc tổ 26, phường H thì bị tổ công tác Công an thành phố yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Lê Bá Đ, ông Nguyễn Văn L, T tự giác giao nộp từ lòng bàn tay trái cho tổ công tác 01 gói nhỏ được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên ngoài có ghi +0,2 bằng mực màu tím, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai đó là hêrôin, T vừa mua mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định; ngoài ra, còn quản lý của Phạm Ranh T 01 ví giả da màu đen bên trong có 125.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 176/KLGĐ-PC54 ngày 29 tháng 5 năm 2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Phạm Ranh T là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,2032 gam (không phẩy hai nghìn không trăm ba mươi hai gam).

Cáo tra ̣ng số 134/CT-VKSTP ngày 06 tháng 8 năm 2018 Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh, tỉnh Thái Bình truy tồ

́ ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Phạm Ranh T về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự̀

năm 2015.

Tại phiên tòa, Phạm Ranh T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Ranh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Ranh T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy được niêm phong trong phong bì số 176/KLGĐ-PC5; trả lại Phạm Ranh T số tiền 125.000 đồng, 01 ví giả da màu đen (đã cũ) nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Bi ̣ cáo Phạm Ranh T đồng ý vớ i tô ̣i danh Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh, tỉnh Thái Bình đà

truy tỗ

́ và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bi ̣ cáo Phạm Ranh T nói lờ i sau cùng: Đề nghị Hô ̣i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐI ̣NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án, căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trinh điều tra, truy tố, xét xử đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền, trinh tự, thủ

̀

̀ tu ̣c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng Hình sự. Quá trinh điều tra và

̀ ta ̣i phiên tòa, không ai có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

[2] Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …; c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”

[3] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, Phạm Ranh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 29 tháng 5 năm 2018 trên đường LH thuộc Tổ 26, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Phạm Ranh T tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,2032 gam, mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Phạm Ranh T là xâm pha ̣m quy đi ̣nh quản lý chất gây nghiê ̣n của nhà nướ c, trong đó ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại rất xấu cho sức khỏe của con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi trên của Phạm Ranh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Phạm Ranh T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

[6] Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là vâ ̣t thuô ̣c loa ̣i nhà nướ c cấm tàng trữ, mua bán nên cần ti ̣ch thu tiêu hủy; số tiền 125.000 đồng và 01 ví giả da màu đen quản lý của bị cáo, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

[8] Về nguồn gốc số ma túy, Phạm Ranh T khai mua của mô ̣t ngườ i nam giới khoảng 27 tuổi không quen biết ta ̣i khu vực đường LH thuộc Tổ 26, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[9] Bi ̣ cáo Phạm Ranh T phải nộp án phi hinh sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh

́ ̀ của pháp luật và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vi cà ́c le trên,̃

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ranh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Ranh T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 29 tháng 5 năm 2018).

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Ti ̣ch thu tiêu hủy toàn bô ̣ số ma túy thu giữ của Phạm Ranh T còn lại sau giám đi ̣nh được niêm phong trong 01 phong bì số 176/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

3.2. Trả lại bị cáo Phạm Ranh T số tiền 125.000 đồng (một trăm hai mươi lăm nghìn đồng); 01 ví giả da màu đen (đã cũ) nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

(Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vào ngày 07 tháng 8 năm 2018 thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và biên lai thu tiền số 001292)

4. Về án phí: Bị cáo Phạm Ranh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Ranh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 8 năm 2018).

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

̀

́ T XỬ SƠ THẨ

Cỡ chữ