- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Y là được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 131/2018/HNGĐ-ST Ngày 18/10/2018. Về việc: “Tranh chấp về Ly hôn; Nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN
- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Quốc Hùng;
2. Bà Lê Thị Thường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dự; Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham dự phiên tòa: Không tham gia.
Vào ngày 18 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, An Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ kiện Hôn nhân gia đình thụ lý số 202/2018/TLST-HNGĐ ngày 13/6/2018, về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình về Ly hôn; Nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 369/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05/9/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Y, sinh năm 1996;
Nơi cư trú: Ấp T, xã G, huyện S, An Giang.
2. Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1996;
Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện S, An Giang.
(Vắng mặt bị đơn anh Trần Văn Đ, đã tống đạt hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Y ngày 10/5/2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà có nội dung như sau: Chị Đặng Thị Y sống chung với anh Trần Văn Đ từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G (số 98 ngày 21/10/2016); Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Trần Đặng Gia B sinh ngày 22/9/2016. Thời gian gần đây thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đệ không lo làm ăn, không quan tâm vợ con và thường bỏ nhà đi, đã nhiều lần tạo điều kiện hàn gắn để lo cho con cái nhưng không kết quả nên đã sống ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay.
Nay chị Đặng Thị Y yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn Đ; Về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Trần Đặng Gia B và không yêu cầu anh Trần Văn Đ cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Về phía bị đơn anh Trần Văn Đ thì: Toà án đã nhiều lần gửi Thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng cho anh chị, nhưng nhiều lần anh Trần Văn Đ đã vắng mặt không lý do. Qua thu thập chứng cứ thì xác định rằng anh Trần Văn Đ có hộ khẩu thường trú tại Ấp P, xã A, huyện S, An Giang; Việc Tòa án thụ lý vụ kiện và giấy tờ của Tòa án giao gia đình vẫn ký nhận nhưng anh Trần Văn Đ vẫn không có mặt. Vì vậy, Tòa án đã thông qua Thừa phát lại thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật để đưa vụ kiện trên ra xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về Ly hôn, nuôi con; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa bị đơn anh Trần Văn Đ vắng mặt lần thứ 2, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Y đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với anh Trần Văn Đ từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; Nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị Đặng Thị Y xin được ly hôn với anh Trần Văn Đ. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, trở thành một tế bào của xã hội, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Yến và anh Đệ xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, Tòa án đã tạo điều kiện mời 02 bên để động viên hàn gắn nhưng nhiều lần anh Trần Văn Đ không có mặt, không còn quan tâm đến tình cảm vợ chồng và chăm sóc lẫn nhau và thực tế cả 02 đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2018. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa chị Đặng Thị Y và anh Trần Văn Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa 02 người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật HNGĐ 2014 cần chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Y là được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
Về quan hệ con cái: Chị Đặng Thị Y thừa nhận cháu Trần Đặng Gia B sinh ngày 22/9/2016 là con chung của chị và anh Trần Văn Đ và giấy khai sinh cũng đã thể hiện điều này, sau khi ly hôn thì chị Đặng Thị Y yêu cầu được nuôi con chung. Trong khi đó, từ khi Tòa án thụ lý vụ kiện đến nay thì anh Trần Văn Đ không đưa ra ý kiến về việc tranh chấp người nuôi con, trong khi đó cháu Gia Bảo hiện còn nhỏ. Do đó, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Y là được tiếp tục nuôi con chung là cháu Trần Đặng Gia B.
Về quan hệ cấp dưỡng: Theo khoản 3 Điều 82 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Lẽ ra, anh Trần Văn Đ không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Đặng Thị Y để phụ tiếp phần nào chi phí cho cuộc sống và học tập cho cháu sau này; Tuy nhiên, phía chị Yến không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận và không buộc anh Trần Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Đặng Thị Y . Tuy nhiên, khi điều kiện kinh tế thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và yêu cầu việc cấp dưỡng, đồng thời chị Yến phải tạo điều kiện cho anh Trần Văn Đ được thăm nom và chăm sóc con.
Về quan hệ tài sản: Chị Đặng Thị Y không yêu cầu phân chia tài sản nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Đặng Thị Y có yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Văn Đ nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của luật Hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Xử:
* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Y là được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng:
+ Giao cháu Trần Đặng Gia B sinh ngày 22/9/2016 cho chị Đặng Thị Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
+ Anh Trần Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Đặng Thị Y; Chị Đặng Thị Y phải tạo điều kiện cho anh Trần Văn Đ được thăm nom và chăm sóc con theo quy định pháp luật.
* Về quan hệ tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Về án phí sơ thẩm: Chị Đặng Thị Y phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; Đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo phiếu thu số 0001217 ngày 13/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, An Giang; Được khấu trừ nên chị Đặng Thị Y đã nộp xong.
Báo cho đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án (có lý do chính đáng) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh An Giang. - VKSND H.Thoại Sơn. - Chi cục THADS H.Thoại Sơn. - Các đương sự (Để thi hành). - UBND xã G. - Lưu văn phòng. - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán - Chủ toạ phiên toà |