vanban.org

Bản án 131/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 23/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - Bùi Văn Q - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 20 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 131/2017/HSST
Ngày 23 - 8 - 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Xuân Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Sinh Chi

2. Bà Phạm Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố

Thái Bình.

- Đại diện VKSND thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan

Anh - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái

Bình, tỉnh Thái Bình, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vu ̣ án hinh sự thu ̣ lý số

̀ 122/2017/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2017, Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra x ét xử số 137/2017/QĐXX - ST ngày 10 tháng 8 năm 2017, đối vớ i các bi ̣ cáo:

1. Họ tên: Phạm Văn T, sinh ngày 10/11/1994.

Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện K, tỉnh T.

Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12.

Con ông Phạm Văn T - SN 1969; Con bà Đỗ Thị H - SN 1973.

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Bị cáo chưa có vợ con.

- Tiền án, Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12, sau nghỉ học ở nhà

lao động tự do.

Bị tạm giữ kể từ ngày 20/6/2017 đến ngày 23/6/2017 chuyển tạm giam.

2. Họ tên: Bùi Văn Q, sinh ngày 13/01/1996.

Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12.

Con ông Bùi Văn T - SN 1962; Con bà Nguyễn Thị B - SN 1970.

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Bị cáo chưa có vợ con.

- Tiền án, Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12, sau nghỉ học ở

nhà lao động tự do.

Bị tạm giữ kể từ ngày 20/6/2017 đến ngày 23/6/2017 chuyển tạm giam.

(Các bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa)

3. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Đỗ Thị H - SN 1973 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện K, tỉnh T.

4. Ngƣời làm chứng:

- Anh Đào Xuân H - SN 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện K, tỉnh T.

- Anh Trần Văn T- SN 1993 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ Á N:

Qua các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và quá trình xét h ỏi, tranh luận ta ̣i phiên

tòa, nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 19/6/2017 Phạm Văn T điều khiển xe máy nhãn

hiệu Honda AirBlade FI, màu vàng đen trắng biển số 17B9-092.53 đi chơi tại Thôn P, xã N, huyện K, tỉnh T thì gặp Bùi Văn Q đang đi bộ. Q rủ T có tiền không đi mua ma túy đá về cùng sử dụng. T nói T có tiền nhưng không biết chỗ mua ma túy đá. Q nói “em biết chỗ mua”. Sau đó T điều khiển xe máy chở Q lên thành phố T mục đích để cả hai đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Dưới sự chỉ dẫn của Q, T chở Q đến khu vực cổng chính bệnh viện đa khoa tỉnh T, thuộc khu vực tổ 23, phường T, thành phố T thì dừng lại. Tại đây T đưa cho Q 300.000 đồng, T đứng chờ ngoài cổng còn Q cầm tiền đi bộ vào bên trong khu vực Bệnh viện Đa khoa tỉnh T gặp và mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi (Q không quen biết) 300.000 đồng được một gói nhỏ ma túy bên ngoài được gói bằng giấy trắng mềm. Sau khi mua được ma túy Q cầm gói ma túy này ở lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra chỗ T đang đứng chờ. Khi Q vừa đến chỗ T thì bị tổ công tác Công an thành phố T thấy cả hai có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra đối với T và Q. Khi kiểm tra có sự chứng kiến của hai người làm chứng là anh Trần Văn T, sinh năm 1993; Trú tại thôn T, xã V, thành phố T và anh Đào Xuân H, sinh năm 1973; Trú tại thôn H, xã Q, huyện K, tỉnh T. Q tự giác đưa từ lòng bàn tay phải của Q ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ được gói bằng giấy trắng mềm, bên trong là túi nilon màu trắng trong cùng chứa các chất tinh thể màu trắng. Q khai nhận đó là ma túy đá mua về để Q và T sử dụng chung. Tổ công tác gói lại và niêm phong vào phong bì dán kín mép có chữ ký của Q, T và hai người làm chứng. Tổ công tác đã mời người làm chứng và yêu cầu T và Q về trụ sở công an thành phố T. Tại trụ sở công an thành phố T, kiểm tra người Bùi Văn Q tổ công tác thu của Q 02 điện thoại di động: 01 chiếc nhãn hiệu Samsung màu vàng, 01 chiếc nhãn hiệu Masstel màu đen (đều đã qua sử dụng); kiểm tra người Phạm Văn T tổ công tác thu 01 ví dả da màu đen bên trong có 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe đều mang tên T, kiểm tra xe máy do T điều khiển nhưng không phát hiện và thu giữ gì. Sau đó tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 255/KLGĐ-PC45 ngày 20/6/2017 của phòng Kỹ thuật hình

sự Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 1,6119 gam (một phảy sáu nghìn một trăm mười chín)”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Phạm Văn T và Bùi Văn Q khai nhận hành

vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số 130/KSĐT ngày 26 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân

dân thành phố Thái Binh truy tố để xét xử đối với các bị cáo Phạm Văn T và Bùi Văn

̀ Q về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm

̀ 1999.

Tại phiên tòa , đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh vẫn giữ

̀ nguyên quan điểm truy tố đ ối với các bị cáo Phạm Văn T và Bùi Văn Q về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điều 194, khoản 1; Điều 46, khoản 1, điểm p; Điều 20; Điều 33 Bộ

luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Điều 7, khoản 3; Điều 249, khoản 1, điểm c Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T mứ c án từ 15 tháng đến 18 tháng tù thờ i ha ̣n tù tinh

́ từ ngày tạm giữ 20/6/2017.

Áp dụng: Điều 194, khoản 1; Điều 46, khoản 1, khoản 2, điểm p; Điều 20; Điều

33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Điều 7, khoản 3; Điều 249, khoản 1, điểm c Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo cáo Bùi Văn Q mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thờ i ha ̣n tù

tính từ ngày tạm giữ 20/6/2017.

Và các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án.

Các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái

Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều

kiện hoàn cảnh gia đình các bị cáo, các bị cáo phạm tội lần đầu nên cho các bị cáo hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị H trình bày: Về nguồn gốc

chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade FI, màu vàng đen trắng biển số 17B9-092.53 mang tên Phạm Văn T, trong quá trình cơ quan Công an thu giữ đã xác định là tài sản của gia đình tôi, nên tôi đã được thông báo nhận lại chiếc xe trên trong tình trạng còn nguyên vẹn, tôi không có yêu cầu gì khác. Mong HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Bộ luật hình sự để các bị cáo yên tâm cải tạo, giáo dục trở thành công dân có ích cho xã hội.

̀

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ :

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃

c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:

Về hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái

Bình, Điều tra viên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh, Kiểm sát viên trong

̀ quá trình điều tra, truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền , trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bi ̣ cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tụng. Do đó , các hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng , ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

Ngày 19/6/2017 tại khu vực cổng chính Bệnh viện Đa khoa tỉnh T, thuộc khu

vực tổ 23, phường T, thành phố T, tỉnh T. Phạm Văn T và Bùi Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 1,6119 gam (một phảy sáu nghìn một trăm mười chín gam) với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang.

Lờ i khai của các bi ̣ cáo phù hợp vớ i lờ i khai của những ngườ i làm chứ ng anh

Trần Văn T, anh Đào Xuân H (bút lục 56 – 61). Phù hợp với các tài liệu , chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố Thái Binh lâ ̣p hồi 22 giờ 15 phút ngày 19/6/2017. (bút lục số 02, 03); Biên

̀ bản niêm phong vật chứng (bút lục số 20); Bản Kết luận giám định số 255/KLGĐ - PC54 ngày 20/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 26).

Như vâ ̣y, có đủ cơ sở để kết luận Phạm Văn T, Bùi Văn Q đa pha ̣̃

m tô ̣i “Tà ng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 194, khoản 1 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999.

̀

Điều 194 Bộ luật hinh sự năm 1999 quy đi ̣nh:

̀

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Điều 249 Bộ luật hinh sự năm 2015 quy đi ̣nh:

̀

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua

bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ

0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 1999 mứ c hinh pha ̣t

̀

̀ tù từ 02 năm đến 07 năm là cao hơn so vớ i mứ c hinh pha ̣t tù từ 01 năm đến 05 năm

̀

quy đi ̣nh ta ̣i Điều 249, khoản 1 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015. Căn cứ vào những quy đi ̣nh

̀

có lợi cho các bị cáo do thay đổi chính sách pháp luật Hình sự của Nhà nước theoNghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Điều 7, khoản 3; Điều 249, khoản 1, điểm c Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xét tính chất , mứ c đô ̣, hâ ̣u quả hành vi pha ̣m tô ̣i của các bi ̣ cáo thấy hành vi

phạm tội của các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Văn Q là nguy hiểm cho xã hội , đa xâm̃ phạm quy đi ̣nh quản lý chất gây nghiê ̣n của Nhà nướ c và chinh sách đô ̣c quyền quản

́ lý của Nhà nước về chất ma túy . Ma túy không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội gây ảnh hưở ng đến an ninh, trâ ̣t tự xa hô ̣̃ i.

Trong vụ án này bị cáo T và bị cáo Q là đồng phạm và thuộc trường hợp đồng

phạm giản đơn, bản thân các bị cáo đều là người nghiện ma tuý nên Q chủ động khởi xướng việc mua ma túy và T là người bỏ tiền đưa cho Q mua ma túy, Q là người trực tiếp giao dịch mua và nhận ma túy để sử dụng chung. Vì vậy vai trò của các bị cáo T và Q trong vụ án này là ngang nhau, khi xét xử cần áp dụng mức hình phạt ngang nhau và phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng chống tội phạm chung.

Xét tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Tại cơ quan điều tra và

tại phiên tòa hôm nay các bi ̣ cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên được áp du ̣ng mô ̣t tinh tiết giảm nhe ̣ quy đi ̣nh ta ̣i Điều 46, khoản 1, điểm p Bô ̣ luâ ̣t hinh sự. Ngoài ra

̀

̀ ông Bùi Văn T (là bố đẻ bị cáo Q) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba nên bị cáo Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại Điều 46, khoản 2 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự năm 1999.

- Bản thân các bi ̣ cáo là ngườ i nghiê ̣n ma túy, có hành vi tàng trữ ma túy với

mục đích sử dụng . Vì vậy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối vớ i các bi ̣ cáo là phù hợp.

- Trong quá trinh điều tra , truy tố , xét xử bị cáo đều khai đã mua ma túy của

̀ mô ̣t ngườ i nam giớ i khoảng 30 tuổi, không quen biết , trong khu vực lối đi vào của Bệnh viện Đa khoa tỉnh T. Qua điều tra, xác minh, không xác đi ̣nh được cu ̣ thể ngườ i bán ma túy cho các bị cáo nên không đủ căn cứ để xử lý.

* Về xử lý vật chứ ng:

- Số ma túy thu giữ được của các bi ̣ cáo là vâ ̣t thuô ̣c loa ̣i Nhà nướ c cấm lưu

hành nên cần ti ̣ch thu tiêu hủy.

- Đối với xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade FI, màu vàng đen trắng biển số

17B9-092.53 qua điều tra xác đi ̣nhtài sản được đăng ký mang tên anh Hà Quốc H - SN 1978; ĐKHK: SN 10/04, tổ 34, phường B, Thành phố T. Anh H đã bán chiếc xe trên cho anh Trần Trí T - SN 1967; Trú tại: SN 390, đường L, tổ 08, phường T, Thành phố T (chủ cửa hàng xe máy T - H). Tháng 09/2016 T mua lại chiếc xe trên làm phương tiện đi lại cho cả gia đình bằng số tiền của chị Đỗ Thị H (mẹ đẻ T). Ngày 11/7/2017 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị H chiếc xe máy trên để quản lý và sử dụng. Chị H nhận lại và không có ý kiến gì. HĐXX xét thấy phù hợp cần chấp nhận.

- Đối với 02 chiếc điện thoại di động (01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu

vàng, 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen đều đã qua sử dụng) cơ quan điều tra bắt, quản lý và thu giữ của Bùi Văn Q. Trong quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại samsung màu vàng là của bị cáo T, theo T khai bị cáo đi từ huyện K lên T phố T, khi lên T phố bị cáo gặp Q và do để túi quần chật nên bị cáo đã đưa cho Q ngồi sau cầm hộ. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận chiếc điện thoại trên của các bị cáo chỉ dùng vào việc liên lạc cho gia đình và bạn bè, không liên quan đến việc mua ma túy. Vì vậy cần trả lại cho bị cáo Q và T điện thoại trên là phù hợp.

- 01 ví dả da màu đen; 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe đều

mang tên Phạm Văn T, không liên quan đến vụ án. Cần trả lại bị cáo T là phù hợp.

* Về án phi: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

́

Các bi ̣ cáo , người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong

thờ i ha ̣n luâ ̣t đi ̣nh.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH

1. Tuyên bố : Bị cáo Phạm Văn T và Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy”.

2. Hình phạt:

- Áp dụng Điều 194, khoản 1; Điều 46, khoản 1,điểm p; Điều 20; Điều 33 Bộ

luật Hình sự 1999 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Điều 7, khoản 3; Điều 249, khoản 1, điểm c Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Xử pha ̣t bi ̣ cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tinh

́ từ ngày tạm giữ 20/6/2017.

- Áp dụng Điều 194, khoản 1; Điều 46, khoản 1, khoản 2, điểm p; Điều 20;

Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Điều 7, khoản 3; Điều 249, khoản 1, điểm c Bộ luật Hình sự năm 2015

- Xử pha ̣t bi ̣ cáo Bùi Văn Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tinh từ

́ ngày tạm giữ 20/6/2017.

3. Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng: Áp dụng Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự và Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t tố

̀ tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy, loại Methamphetamin còn lại sau giám định được

niêm phong trong phong bì số 255/KLGĐ-PC45 ngày 11/7/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

- Trả lại bị cáo Bùi Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen (đã

qua sử dụng). Nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo Thi hành án.

- Trả lại bị cáo T 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu vàng, 01 ví dả da màu

đen, 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Phạm Văn T. Nhưng tiếp tục quản lý chiếc điện thoại để đảm bảo Thi hành án.

4. Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Nghị quyết số

̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buô ̣c các bị cáo Phạm Văn T và Bùi Văn Q mỗi bị cáo phải nộp200.000 đồng án

phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong

thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/8/2017.

Nơi nhâ ̣n:

̀

̉

Cỡ chữ