vanban.org

Bản án 130/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc M. [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc M được ly hôn anh Đặng Thành L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Ngọc M"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Cư trú; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHU VỰC 11 - AN GIANG
Bản án số: 130/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 4 - 2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

2. Bà Trần Thị Kim Thoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2026/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 27/3/1997; CCCD số xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 16/8/2021;

Nơi cư trú: Số A, tổ A, ấp P, xã C, tỉnh An Giang (trước đây là số 14, tổ A, ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang) (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Đặng Thành L, sinh ngày 16/05/1989; CCCD số xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 10/8/2021;

Nơi cư trú: Ấp L, xã N, tỉnh An Giang (trước đây là ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L do mai mối nên tiến đến hôn nhân. Đến ngày 23/10/2024, chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh An Giang). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà của cha mẹ anh Đặng Thành L địa chỉ ấp L, xã N, tỉnh An Giang (trước đây là ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang). Vợ chồng chung sống đến khoảng giữa tháng 9/2024 thì phát sinh mâu thuẫn do trong quá trình anh Đặng Thành L đi làm ruộng ở N thuộc huyện T, tỉnh An Giang thì chị Nguyễn Ngọc M có xin đi theo và chứng kiến việc anh Đặng Thành L sinh sống ở nhà của một người phụ nữ tên N (không rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ, là người yêu cũ của anh Đặng Thành L) và có cử chỉ thân mật với người phụ nữ này nên chị Nguyễn Ngọc M có ghen tuông và yêu cầu anh Đặng Thành L chở về nhà. Sau khi về nhà, mặc dù chị Nguyễn Ngọc M đang mang thai nhưng anh Đặng Thành L không quan tâm, chăm sóc mà lại thường xuyên nhắn tin, liên lạc với người phụ này nên 02 ngày sau chị Nguyễn Ngọc M buồn và bỏ về nhà mẹ ruột để dưỡng thai và sống từ tháng 9/2024 cho đến nay. Trong quá trình chị Nguyễn Ngọc M về nhà mẹ ruột sống, khi mẹ chồng bị bệnh thì chị Nguyễn Ngọc M có về thăm, tuy nhiên, mẹ chồng thường xuyên nói với chị Nguyễn Ngọc M là “anh Đặng Thành L có vợ mới rồi về nhà làm gì” nên chị Nguyễn Ngọc M buồn và trở về nhà mẹ ruột. Đến khi chị Nguyễn Ngọc M sinh con, anh Đặng Thành L cũng không quan tâm, chăm sóc mà có thái độ nhợt nhạt với chị Nguyễn Ngọc M dẫn đến chị Nguyễn Ngọc M cũng không còn tình cảm với anh Đặng Thành L. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình chị Nguyễn Ngọc M có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L, tuy nhiên gia đình anh Đặng Thành L không muốn chị Nguyễn Ngọc M quay về sống chung; bản thân chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên vợ chồng không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Ngọc M yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Thành L.

Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L có 01 (một) con chung tên Đặng Thị Khả H, sinh ngày 12/4/2025. Khi ly hôn, chị Nguyễn Ngọc M yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đặng Thị Khả H, sinh ngày 12/4/2025; không yêu cầu anh Đặng Thành L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, Giấy khai sinh của con chung.

Bị đơn anh Đặng Thành L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Chị Nguyễn Ngọc M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Anh Đặng Thành L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc M. Về quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Ngọc M được ly hôn với anh Đặng Thành L. Về con chung, chị Nguyễn Ngọc M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đặng Thị Khả H, sinh ngày 12/4/2025; anh Đặng Thành L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, Giấy khai sinh của con chung, anh Đặng Thành L có nơi cư trú tại ấp L, xã N, tỉnh An Giang (trước đây là ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang). Tại Biên bản xác minh ngày 27/11/2025 (BL: 16), hiện nay, anh Đặng Thành L có đăng ký thường trú và cư trú tại ấp L, xã N, tỉnh An Giang nhưng thường vắng mặt tại địa phương do đi làm ăn, do không có trình báo chính quyền địa phương nên không xác định anh Đặng Thành L đi đâu, làm gì. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Đặng Thành L tại ấp L, xã N, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung

Chị Nguyễn Ngọc M khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Đặng Thành L và yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Đặng Thành L (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp L, xã N, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, anh Đặng Thành L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đặng Thành L.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Thành L của chị Nguyễn Ngọc M, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Chị Nguyễn Ngọc M cho rằng, chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh An Giang). Vợ chồng chung sống đến khoảng giữa tháng 9/2024 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Đặng Thành L có tình cảm với người phụ nữ khác và không quan tâm, chăm sóc vợ, con nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình chị Nguyễn Ngọc M có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L, gia đình anh Đặng Thành L không có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L; bản thân chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên vợ chồng không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Ngọc M yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Thành L.

Anh Đặng Thành L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Xét thấy, chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Đặng Thành L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc M theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L theo quy định của pháp luật nhưng anh Đặng Thành L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Đặng Thành L không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L nên lời trình bày của chị Nguyễn Ngọc M về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị Nguyễn Ngọc M yêu cầu ly hôn anh Đặng Thành L phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Xét yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn của chị Nguyễn Ngọc M, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Chị Nguyễn Ngọc M xác định chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L có 01 con chung tên Đặng Thị Khả H, sinh ngày 12/4/2025; hiện nay, con chung đang sống với chị Nguyễn Ngọc M. Khi ly hôn, chị Nguyễn Ngọc M yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đặng Thị Khả H, sinh ngày 12/4/2025.

Anh Đặng Thành L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị Nguyễn Ngọc M, con chung hiện nay đang sống với chị Nguyễn Ngọc M; quá trình sinh sống với chị Nguyễn Ngọc M, con chung vẫn phát triển tốt và hiện nay cháu Đặng Thị Khả H chưa được 36 tháng tuổi. Để ổn định cuộc sống cho cháu Đặng Thị Khả H, giúp cháu cháu Đặng Thị Khả H phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Nguyễn Ngọc M yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L ly hôn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Ngọc M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị Nguyễn Ngọc M và anh Đặng Thành L ly hôn nên anh Đặng Thành L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Nguyễn Ngọc M không yêu cầu anh Đặng Thành L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Ngọc M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc M.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc M được ly hôn anh Đặng Thành L.

[2] Về con chung:

Chị Nguyễn Ngọc M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đặng Thị Khả H, sinh ngày 12/4/2025. Hiện nay, con chung đang sống với chị Nguyễn Ngọc M.

Anh Đặng Thành L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Ngọc M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Đặng Thành L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Ngọc M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0003221 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ