- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hồ Nhật Duy cùng đồng phạm phạm tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy - phạm tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (điều 326 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Ngô Tam Trường D1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 326 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2025/HS-PT Ngày: 18-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Phú.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thọ;
Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (cơ sở 02), xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Hồ Nhật D cùng các đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam .
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Hồ Nhật D, sinh ngày 19/3/1985, tại: thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: khối phố Phú Ân, phường An Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là khối phố Phú Ân, phường Quảng Phú, thành phố Đà Nẵng); nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn 11/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Nhật Tuyến, sinh năm 1955 và bà Cao Thị Thúy Ái, sinh năm 1958; có vợ là Nguyễn Thị Luy Na, sinh năm 1987 và 02 con (con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 31/01/2002, bị Công an phường Hòa Hương, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 25/3/2002, bị Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Quảng Nam xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 11/8/2005, bị TAND thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 10/9/2024, bị TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 17/12/2024.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
2. Bùi Văn T, sinh ngày 14/4/1990; tại: Tam Kỳ, Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố 2, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố 2, phường Hương Trà, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Bùi Văn Xuân, sinh năm 1967 và bà Trần Thị Ái Liễu, sinh năm 1970; có vợ là Võ Thị Kiều My, sinh năm 1990 và 02 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 04/7/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh. Có mặt.
3. Hoàng Công Phú T1, sinh ngày 31/8/2000; tại: Tam Kỳ, Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố 1, phường An Xuân, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố 1, phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Hoàng Công Thạch, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Thúy, sinh năm 1976; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 29/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh. Có mặt.
4. Lưu Văn T2, sinh ngày 26/8/1980; tại: huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Số 36 Trần Quang Diệu, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Số 36 Trần Quang Diệu, phường Hương Trà, thành phố Đà Nẵng); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: giáo viên; con ông: Lưu Văn Sừng, sinh năm 1954 và bà Trần Thị Minh, sinh năm 1957; có vợ là Trần Thị Luyến, sinh năm 1982 và 02 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 06/12/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Vắng mặt (có đơn xin hoãn vì lý do nhập viện).
5. Phạm Hồng Ph, sinh ngày 26/01/1996; tại: huyện Phú Ninh, Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố 3, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố 3, phường Hương Trà, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: buôn bán; con ông Phạm Hồng Lĩnh, sinh năm 1962 và bà Thái Thị Phê, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 29/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt.
6. Đặng Công Th, sinh ngày 16/4/1987; tại: Tam Kỳ, Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố 6, phường An Xuân, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố 6, phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Đặng Công Hòa (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thái Thu, sinh năm 1969; có vợ là Võ Thị Lưu, sinh năm 1989 và 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
7. Lê Duy Th1, sinh ngày 17/4/1985; tại: huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: khối phố Mỹ Thạch Trung, phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là khối phố Mỹ Thạch Trung, phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Lê Huynh, sinh năm 1953 và bà Phan Thị Loan, sinh năm 1956; có vợ là Trương Thị Bảo Khuyên, sinh năm 1983 và 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 10/4/2013, bị Công an phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 15/4/2013.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
8. Mai Duy Nh, sinh ngày 20/11/1990; tại: huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; nơi thường trú: thôn Phú Khê, xã Tam Xuân 2, huyện Núi thành, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Phú Khê, xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Mai Văn Nhân, sinh năm 1955 và bà Lê Thị Lan, sinh năm 1959; có vợ là Hồ Thị Hoa Thảo, sinh năm 1994 và 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: ngày 26/10/2017, bị Công an huyện Núi Thành xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, bị cáo chưa chấp hành nộp phạt.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
9. Ngô Tam Trường D1, sinh ngày 01/11/1990; tại: huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn Tân Lộc Ngọc, xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Tân Lộc, xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: sửa chữa điện thoại; con bà Ngô Thị Sự, sinh năm 1970, cha (không rõ); có vợ là Nguyễn Thị Ái Vân, sinh năm 1993 và có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: ngày 13/01/2021, bị Công an xã Tam Thanh, thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 20/7/2021.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
10. Nguyễn Đại D2, sinh ngày 02/3/1990; tại: Tam Kỳ, Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố 2, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố 2, phường Hương Trà, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: kinh doanh; con ông Nguyễn Văn Thư, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Quý, sinh năm 1963; bị cáo có vợ là Trần Thị Khương, sinh năm 1983, chưa có con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
11. Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 20/02/1987; tại: huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn Tú Phương, xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Tú Phương, xã Thăng Điền, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Ngọc Lệ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nhiên (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
12. Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/10/1992; tại: huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký thường trú: khối phố Hoà Thạnh, phường Phổ Hoà, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là khối phố Hoà Thạnh, phường Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi); nơi đăng ký tạm trú: Số 826 Phan Châu Trinh, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Số 826 Phan Châu Trinh, phường Hương Trà, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn Lễ, sinh năm 1972 và bà Trương Thị Bốn, sinh năm 1968.; bị cáo có vợ là Cao Thị Hồng Thắm, sinh năm 1997 và có 02 con (con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024); tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
13. Nguyễn Vân Anh T, sinh ngày 15/11/1993; tại: thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; nơi thường trú: khối phố Mỹ An, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là khối phố Mỹ An, phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn Như Ngô (đã chết) và bà Lý Thị Thu Sương, sinh năm 1957; có vợ là Lê Thị Như Quỳnh, sinh năm 1996 và có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
14. Nguyễn Văn B, sinh ngày 01/6/1986; tại: huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn Bích Nam 2, xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Bích Nam 2, xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Nguyễn Văn Tài (đã chết) và bà Trương Thị Thanh, sinh năm 1940; có vợ là Nguyễn Thị Kim Anh, sinh năm 1986 và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
15. Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 12/5/1994; tại: thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: khối phố Hương Trà Tây, phường Hòa Hương, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố Hương Trà Tây, phường Hương Trà, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: nhân viên điện máy Chợ Lớn; con ông Nguyễn Văn Trí, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Lệ Uyên, sinh năm 1973; có vợ là Nguyễn Thị Thảo Nguyên, chưa có con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
16. Trần Minh Nh, sinh ngày 25/10/1981; tại: thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố 3, phường An Xuân, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố 3, phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: kinh doanh; con ông Trần Ngọc Sơn, sinh năm 1957 và bà Trần Thị Sen, sinh năm 1957; có vợ là Trần Thị Lan, sinh năm 1982 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
17. Trần Tấn Anh Ng, sinh ngày 21/7/1993; tại: thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố 3, phường An Xuân, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố 3, phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Trần Trí (đã chết) và bà Lữ Thị Lực, sinh năm 1960; có vợ là Hồ Hàn Nữ Pháp, sinh năm 1995 và 01 người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
18. Lê Nguyên P, sinh ngày: 20/01/1996; tại: thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam; nơi cư trú: Khối phố 6, phường An Xuân, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố 6, phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: buôn bán; con ông: Lê Nguyên Châu, sinh năm 1967 và bà Phan Thị Phương Hà, sinh năm 1967; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
19. Phan Xuân V, sinh ngày: 20/12/1994; tại: thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn Phước Châu, xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Phước Châu, xã Thăng An, thành phố Đà Nẵng); giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông: Phan Xuân Vinh, sinh năm 1969 và bà Hồ Thị Hoa, sinh năm 1970; có vợ là Trần Thị Lành, sinh năm 1993 và 03 người con (con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 21/7/2020, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã nộp phạt ngày 17/8/2020.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo Hồ Nhật D, Lê Duy Th1 (theo yêu cầu của các bị cáo): Luật sư Vũ Minh Thương – Văn phòng Luật sư Vũ Minh Thương, thuộc Đoàn Luật sư Quảng Nam. Địa chỉ: Số 155 đường Trần Dư, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là 155 đường Trần Dư, phường Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng). Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 11 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua công tác quản lý an ninh, trật tự trên không gian mạng, Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (PA05) Công an tỉnh Quảng Nam phát hiện nhóm Zalo có tên “Hóng Clip Hot” (link Zalo: https://zalo.me/g/ycdtyh017) thường xuyên đăng tải nhiều hình ảnh, video có tính chất nhạy cảm, khiêu dâm có nội dung mang tính chất đồi trụy cho nhiều người xem, bình luận nên đã triệu tập các thành viên đã đăng tải trong nhóm đến làm việc. Qua điều tra ban đầu xác định có dấu hiệu của tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy”, Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (PA05) Công an tỉnh Quảng Nam đã khởi tố vụ án và chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tiếp tục điều tra làm rõ.
Qua điều tra xác định được như sau: Ngày 30/3/2022, Bùi Văn T sử dụng điện thoại của Hồ Nhật D tạo nhóm Zalo có đường link https://zalo.me/g/ycdtyh017. Sau đó, Tân và Duy thêm nhiều thành viên là người thân, bạn bè của Tân và Duy vào nhóm với mục đích để anh em nhậu vào nói chuyện vui. Sau đó Duy đổi tên nhóm thành “gặp nhau là uống”. Đến ngày 31/3/2022, Tân đổi tên nhóm thành “Hóng Clip Hot” để chia sẻ, đăng tải các video chứa nội dung khiêu dâm, đồi truỵ để những người trong nhóm xem, bình luận. Nhóm Zalo “Hóng Clip Hot” được thành lập ở chế độ chỉ có Trưởng nhóm là Hồ Nhật D (sử dụng tài khoản Zalo “Nhật Duy” đăng ký bằng số điện thoại 0906565258) và Phó nhóm (là tài khoản Zalo “Ánh Nắng”) mới có quyền duyệt thêm người khác vào nhóm; các thành viên khác trong nhóm muốn thêm thành viên phải được sự đồng ý của Trưởng nhóm, Phó nhóm thì mới được duyệt vào nhóm. Qua kiểm tra, trích xuất dữ liệu, xác định nhóm Zalo “Hóng Clip Hot” có 35 tài khoản Zalo đã đăng tải 247 video, trong đó có 233 video chứa nội dung khiêu dâm đồi trụy; đến thời điểm ngày 15/12/2023, nhóm có 185 thành viên đang tham gia nhóm. Trong đó, đã xác định được 30 người sử dụng 30 tài khoản Zalo/35 tài khoản đã đăng tải tổng cộng 231 video, trong đó có 217 video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy vào nhóm Zalo trên, cụ thể như sau:
1. Hồ Nhật D: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Nhật Duy”, mã Zalo ID: 121479745. Duy là người lập nhóm, vào các ngày 08/3/2023, 04/9/2023, 19/9/2023, Duy đã sử dụng điện thoại iPhone 13 Pro Max để đăng tải 04 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 75,6MB. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 27 người đã nhận, đã xem.
Đối với chiếc điện thoại iPhone 13 Pro Max của Hồ Nhật D: điện thoại này đã được tạm giữ, xử lý trong vụ án hình sự “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” mà Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ thụ lý.
2. Bùi Văn T: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Bùi Tân”, mã Zalo ID: 72002843. Tân tham gia thành lập nhóm, chưa thoát nhóm. Tân sử dụng điện thoại iPhone 13 Pro Max đăng tải 07 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 65,3MB, trong đó có 05 video đăng tải vào các ngày 09/3/2023, 02/9/2023, 07/12/2023 với tổng dung lượng 62,74MB có chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 27 người đã nhận, đã xem.
3. Võ Quang Lộc: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Võ Quang Lộc”, mã Zalo ID: 291508235, Lộc vào nhóm ngày 03/6/2022, chưa thoát nhóm. Lộc sử dụng điện thoại iPhone 7 Plus đăng tải 78 video vào nhóm “Hóng Clip Hot”, tổng dung lượng 803MB, trong đó có 76 video đăng tải vào các ngày 15/3/2023, 13/7/2023, 15/7/2023, 09/8/2023, 20/9/2023, 11/11/2023 với tổng dung lượng 801,65 MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 25 đến 28 người đã nhận, đã xem.
4. Ngô Lê Văn Tú: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Tú Yuki”, mã Zalo ID: 127486680, Tú vào nhóm ngày 30/11/2022, thoát nhóm ngày 23/12/2023. Vào các ngày 09/4/2023, 14/4/2023, 24/7/2023, 09/9/2023, Tú đã sử dụng điện thoại iPhone 14 Pro Max đăng tải 22 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 209MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 25 đến 27 người đã nhận, đã xem.
5. Đặng Vững Vũ: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Hoàng Vũ”, mã Zalo ID: 122346435, Vũ vào nhóm 18/5/2022, rời nhóm ngày 23/12/2023. Vũ sử dụng điện thoại iPhone 14 Pro Max đăng tải 15 video vào nhóm “Hóng Clip Hot”, tổng dung lượng 67MB, trong đó có 12 video được đăng tải vào các ngày 13/4/2023, 11/5/2023, 23/8/2023, 13/12/2023 với tổng dung lượng 58,9MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 25 đến 28 người đã nhận, đã xem.
6. Hoàng Công Phú T1: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Mark”, mã Zalo ID: 242939037, Tài vào nhóm và thoát nhóm nhiều lần, cụ thể: Vào nhóm ngày 30/3/2022, thoát nhóm ngày 08/4/2022, vào nhóm lần 2 lúc 06 giờ 09 phút ngày 09/4/2022, thoát nhóm lúc 10 giờ 35 phút ngày 09/4/2022, vào nhóm lần 3 ngày 03/6/2022, thoát nhóm ngày 29/5/2023. Vào các ngày 30/3/2023 và 05/4/2023, Tài đã sử dụng điện thoại iPhone 11 để đăng tải 13 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 33,5MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 25 đến 26 người đã nhận, đã xem.
7. Phạm Hồng Ph: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Hong Phap”, mã Zalo ID: 74836219, Pháp vào nhóm và thoát nhóm nhiều lần, cụ thể: vào nhóm ngày 09/4/2022, thoát nhóm lúc 10 giờ 51 phút ngày 07/11/2023, vào nhóm lần 2 lúc 10 giờ 59 phút ngày 07/11/2023, thoát nhóm lúc 20 giờ 34 phút ngày 07/11/2023. Vào các ngày 02/2023, 24/5/2023, 25/5/2023, Pháp sử dụng điện thoại OPPO AlK đăng tải 13 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 171MB. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 25 đến 27 người đã nhận, đã xem.
8. Lưu Văn T2: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Luu Tung Tung” (Thầy Tùng), mã Zalo ID: 100385737, Tùng vào nhóm 09/4/2022, chưa thoát nhóm. Vào các ngày 02/4/2023, 13/5/2023, 20/5/2023, 09/9/2023, 02/10/2023, 03/10/2023, 09/10/2023, 11/11/2023, Tùng đã đã sử dụng điện thoại iPhone 7 Plus đăng tải tổng cộng 12 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 150MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 25 đến 28 người đã nhận, đã xem.
9. Đặng Công Th: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Thuần”, mã Zalo ID: 214457741, Thuần vào nhóm ngày 09/4/2022, chưa thoát nhóm. Vào các ngày 5/7/2023, 06/7/2023, 06/8/2023, 24/8/2023, 03/10/2023, 11/11/2023, Thuần sử dụng điện thoại iPhone 13 Pro Max đăng tải 06 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 38,9MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 25 đến 28 người đã nhận, đã xem.
10. Nguyễn Phát Triển: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Triển Chiêu”, mã Zalo ID: 345486460, Triển vào nhóm ngày 30/3/2022, thoát nhóm ngày 23/12/2023. Vào các ngày 08/7/2023, 07/10/2023, Triển sử dụng điện thoại iPhone 12 Pro Max đăng tải 08 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 137MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 25 người đã nhận, đã xem.
11. Nguyễn Văn B: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “BÌNH”, mã Zalo ID: 247356513, Bình vào nhóm ngày 30/3/2022, thoát nhóm ngày 23/12/2023. Vào các ngày 06/4/2023, 13/5/2023, 02/6/2023, 23/9/2023, 12/6/2023, Bình sử dụng điện thoại Samsung Note 20 Ultra đăng tải 07 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 61,8MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 26 đến 28 người đã nhận, đã xem.
12. Ngô Tam Trường D1: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Rain”, mã Zalo ID: 213072393, Duy vào nhóm 09/4/2022, chưa thoát nhóm. Duy sử dụng điện thoại iPhone 14 Pro Max đăng tải 05 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” vào các ngày 05/7/2023, 24/8/2023, 04/9/2023, 05/9/2023 với tổng dung lượng 55MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 25 đến 27 người đã nhận, đã xem.
13. Nguyễn Thanh T: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Nguyễn Thanh T”, mã Zalo ID: 288971363, Tính vào nhóm ngày 11/4/2022, chưa thoát nhóm. Vào các ngày 23/4/2023 và 15/8/2023, Tính sử dụng điện thoại Redmi Note 10 Pro đăng tải 05 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 46,3MB có chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 25 đến 28 người đã nhận, đã xem.
14. Nguyễn Văn Tr: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Phan Triều”, mã Zalo ID: 135123256, Triều vào nhóm ngày 27/5/2022, thoát nhóm ngày 23/12/2023. Triều đã đăng tải 04 video vào nhóm “Hóng Clip Hot”, tổng dung lượng 4,87MB, trong đó có 03 video đăng tải vào ngày 13/7/2023 với tổng dung lượng 2,67MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 25 người đã nhận, đã xem.
15. Trần Tấn Anh Ng: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Xít”, mã Zalo ID: 108972507, Nguyên vào nhóm ngày 03/6/2022, chưa thoát nhóm. Vào các ngày 07/11/2023, 21/11/2023, 13/12/2023, Nguyên sử dụng điện thoại iPhone 13 Pro Max đăng tải 03 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 25,5MB có chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được từ 27 đến 28 người đã nhận, đã xem.
16. Nguyễn Ngọc N: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Nam Hoang Duc Technology”, mã Zalo ID: 100515060, Nam vào nhóm ngày 09/4/2022, chưa thoát nhóm. Vào các ngày 13/5/2023 và 25/5/2023, Nam sử dụng điện thoại iPhone XS Max đăng tải 03 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 18,2MB có chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 25 người đã nhận, đã xem.
17. Lê Duy Th1: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Duy Thắng”, mã Zalo ID: 238257183, Thắng vào nhóm ngày 30/3/2022, thoát nhóm ngày 07/4/2022, vào nhóm lần 2 ngày 13/4/2022, thoát nhóm ngày 25/12/2023. Vào các ngày 01/9/2023 và 16/9/2023, Thắng sử dụng điện thoại iPhone 14 Pro Max đăng tải 02 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 18,2MB có chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 27 người đã nhận, đã xem.
18. Nguyễn Vân Anh T: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Heo sữa Quay Tam Kỳ - Quảng Nam”, mã Zalo ID: 303558355, Tuấn vào nhóm ngày 11/01/2023, thoát nhóm ngày 16/3/2023, vào nhóm lần 2 ngày 31/5/2023, thoát nhóm ngày 25/12/2023. Vào ngày 13/7/2023, Tuấn sử dụng điện thoại iPhone XS Max đăng tải 02 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 25,8MB. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 25 người đã nhận, đã xem.
19. Nguyễn Đại D2: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Dũng Mộc”, mã Zalo ID: 245874844, Dũng vào nhóm ngày 08/6/2022, chưa thoát nhóm. Vào ngày 09/6/2023, Dũng đã sử dụng điện thoại iPhone 11 Pro Max đăng tải 02 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 4,56MB chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 27 người đã nhận, đã xem.
20. Trần Minh Nh: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Nhật Trần”, mã Zalo ID: 172941691, Nhật vào nhóm ngày 09/4/2022, chưa thoát nhóm. Vào ngày 26/7/2023 và 07/10/2023, Nhật sử dụng điện thoại iPhone 12 Pro đăng tải 02 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 13,4MB chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 27 người đã nhận, đã xem.
21. Nguyễn Văn Đào: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Đào KeVin”, mã Zalo ID: 274829848, Đào vào nhóm ngày 09/5/2022, chưa thoát nhóm. Vào ngày 07/11/2023, Đào sử dụng điện thoại hiệu iPhone 7 Plus đăng tải 02 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” với tổng dung lượng 41,52MB có chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 27 người đã nhận, đã xem.
22. Lê Nguyên P: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Phương Lê”, mã Zalo ID: 175122018, Phương vào nhóm ngày 09/4/2022, chưa thoát nhóm. Phương sử dụng điện thoại iPhone 13 Pro để đăng tải 02 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” vào ngày 13/7/2023 và 04/9/2023, tổng dung lượng 48,3MB chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Mỗi video đã được từ 26 đến 27 người đã nhận, đã xem.
Đối với điện thoại iPhone 13 Pro bị hư nên Phương đã bỏ và sử dụng điện thoại khác nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
23. Phan Xuân V: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Vận tải hàng hóa Logistics”, mã Zalo ID: 313360258, Vĩnh vào nhóm ngày 07/11/2023, thoát nhóm giữa tháng 12/2023. Vĩnh đã sử dụng điện thoại iPhone XS Max để đăng tải 05 video vào nhóm “Hóng Clip Hot”, tổng dung lượng 75,5MB, trong đó có 01 video đăng ngày 08/12/2023, dung lượng 70MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 28 người đã nhận, đã xem. Đối với điện thoại iPhone XS Max: Vĩnh đã bị mất vào đầu năm 2024 nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
24. Phan Văn Thịnh: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Thịnh Milo”, mã Zalo ID: 163935100, Thịnh vào nhóm và ra nhóm nhiều lần, cụ thể: vào nhóm ngày 27/5/2022, thoát nhóm ngày 01/6/2022, vào nhóm lần 2 ngày 11/01/2023, thoát nhóm ngày 30/3/2023, vào nhóm lần 3 ngày 13/7/2023, thoát nhóm ngày 23/12/2023. Thịnh sử dụng điện thoại iPhone 14 Plus đăng tải 03 video vào nhóm “Hóng Clip Hot”, tổng dung lượng 23,1MB, trong đó có 01 video đăng ngày 16/9/2023, dung lượng 6,58MB có nội dung khiêu dâm, đồi trụy, đã được 27 người đã nhận, đã xem.
25. Lê Thanh Tuấn: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Bi Barber Shop”, mã Zalo ID: 331364149, Tuấn vào nhóm ngày 23/02/2022, thoát nhóm ngày 23/12/2023. Vào ngày 08/12/2023, Tuấn sử dụng điện thoại Redmi Note 10 Pro đăng tải 01 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” dung lượng 2,37MB có chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy, video đã được 28 người đã nhận, đã xem.
26. Mai Duy Nh: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Nhật tam xuân”, mã Zalo ID: 222448023. Nhật vào nhóm ngày 09/4/2022, chưa thoát nhóm. Ngày 02/10/2023, Nhật sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A11 đăng tải 01 video vào nhóm “Hóng Clip Hot”, dung lượng 1,32MB chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy, đã được 26 người đã nhận, đã xem.
27. Trần Tấn Anh Vũ: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Anhvutk”, mã Zalo ID: 127544143. Vũ vào nhóm ngày 09/4/2022, chưa thoát nhóm. Ngày 07/10/2023 Vũ sử dụng điện thoại iPhone XS Max đăng tải 01 video vào nhóm “Hóng Clip Hot”, dung lượng 55,8MB chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 27 người đã nhận, đã xem.
28. Nguyễn Công Phạm Ngọc Bảo: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Ncpnb1980”, mã Zalo ID: 292779805. Bảo vào nhóm 09/3/2023, thoát nhóm ngày 12/3/2023. Ngày 09/3/2023, Bảo sử dụng điện thoại iPhone XS Max đăng tải 01 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy, dung lượng 29,9 MB, đã được 27 người đã nhận, đã xem.
29. Ngô Công Tấn: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Ngô Công Tấn”, mã Zalo ID: 256426797. Tấn vào nhóm ngày 09/5/2022, chưa thoát nhóm. Vào ngày 11/4/2023, Tấn sử dụng điện thoại OPPO A93 đăng tải 01 video với dung lượng 3,4 MB vào nhóm “Hóng Clip Hot” chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy. Video đã được 25 người đã nhận, đã xem.
30. Nguyễn Bá Dũng: sử dụng tài khoản Zalo hiển thị tên “Nguyễn Bá Dũng”, mã Zalo ID: 188858622. Dũng vào nhóm ngày 13/7/2023, chưa thoát nhóm. Vào ngày 08/12/2023, Dũng sử dụng điện thoại iPhone (không nhớ rõ loại) đăng tải 01 video vào nhóm “Hóng Clip Hot” dung lượng 2,51MB chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy đã được 28 người đã nhận, đã xem. Điện thoại Dũng sử dụng đã hư hỏng nên đã thay bằng điện thoại khác nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Theo Kết luận giám định ngày 29/12/2023 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam kết luận trong tổng số 247 file video do 35 người đăng tải, phổ biến trên nhóm Zalo “Hóng Clip Hot” thì có 233 file video có chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy, các video có nội dung mô tả cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục; mô tả bộ phận sinh dục, mô tả khỏa thân, hành động tình dục giữa người với người. Các video có nội dung khiêu dâm, đồi trụy là văn hóa phẩm cấm lưu hành.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng) đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Hồ Nhật D, Bùi Văn T, Hoàng Công Phú T1, Lưu Văn T2, Phạm Hồng Ph, Đặng Công Th, Lê Duy Th1, Mai Duy Nh, Ngô Tam Trường D1, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V phạm tội “Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ”.
- Căn cứ các điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Hồ Nhật D 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ các điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù nhưng nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 04/7/2024 là 02 tháng 23 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 18 (Mười tám tháng) tháng 07 (Bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn T215 (Mười lăm) tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 06/12/2024 là 07 tháng 25 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 07 (Bảy) tháng 05 (Năm) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Hoàng Công Phú T1 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 29/5/2024 là 01 tháng 19 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 13 (Mười ba) tháng 11 (Mười một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng Ph 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 29/5/2024 là 01 tháng 19 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 13 (Mười ba) tháng 11 (Mười một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Đặng Công Th 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Ngô Tam Trường D1 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 12 (Mười hai) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tr 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Trần Tấn Anh Ng 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Lê Duy Th1 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vân Anh T106 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đại D2 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Trần Minh Nh 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Lê Nguyên P 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ các điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
+ Xử phạt: Bị cáo Phan Xuân V 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Mai Duy Nh 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt của 11 bị cáo khác trong vụ án với cùng tội danh, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Vào các ngày 04/3/2025, 05/3/2025, 06/3/2025, 07/3/2025 các bị cáo Hồ Nhật D, Bùi Văn T, Hoàng Công Phú T1, Lưu Văn T2, Phạm Hồng Ph, Đặng Công Th, Lê Duy Th1, Mai Duy Nh, Ngô Tam Trường D1, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V đều có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Tam Trường D1 rút toàn bộ kháng cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam (nay là Viên kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng) phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Hồ Nhật D, Bùi Văn T, Hoàng Công Phú T1, Lưu Văn T2, Phạm Hồng Ph, Đặng Công Th, Lê Duy Th1, Mai Duy Nh, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V về tội “Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ” theo quy định tại các điểm đ, g khoản 2 Điều 326 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xem xét nhân thân, vai trò để làm căn cứ xử phạt bị cáo Hồ Nhật D 03 năm 06 tháng tù; bị cáo Bùi Văn T 21 tháng tù; bị cáo Hoàng Công Phú T1, Lưu Văn T2, Phạm Hồng Ph mỗi bị cáo 15 tháng tù; bị cáo Đặng Công Th, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Văn B mỗi bị cáo 12 tháng tù; bị cáo Lê Duy Th1, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Văn Tr, Trần Tấn Anh Ng mỗi bị cáo 09 tháng tù; bị cáo Mai Duy Nh, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Vân Anh T, Trần Minh Nh, Lê Nguyên P, Phan Xuân V mỗi bị cáo 06 tháng tù là có cơ sở pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, mặc dù các bị cáo Các bị cáo: Hồ Nhật D, Bùi Văn T, Phạm Hồng Ph, Lê Duy Th1, Mai Duy Nh, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V, Nguyễn Ngọc N, Hoàng Công Phú T1, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Đại D2 có phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét thấy mức án mà Tòa cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo là phù hợp, không nặng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và vai trò của các bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm. Các bị cáo còn lại không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo là phù hợp, không nặng, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Riêng bị cáo Ngô Tam Trường D1 tự nguyện rút kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Duy.
* Người bào chữa cho các bị cáo Hồ Nhật D, Lê Duy Th1 trình bày luận cứ bào chữa: Thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Toà sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án) quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo cung cấp thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể: Bị cáo Hồ Nhật D cung cấp Đơn xác nhận của Công an phường An Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về sự việc “ngày 21/5/2025, bị cáo Hồ Nhật D có nhặt được số tiền 10 triệu đồng của ông Nguyễn Vũ Phước và đã đến Công an phường An Phú trình báo để trao trả lại toàn bộ số tiền cho ông Phước”, được UBMTTQVN phường An Phú, thanh phố Tam Kỳ cấp giấy Ghi nhận vì đã hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương; có cha là ông Hồ Nhật Tuyến là Cựu chiến binh; bị cáo Lê Duy Th1 cung cấp Đơn cứu xét với nội dung “bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi vợ và con thơ, nuôi mẹ già đang bị ung thư giai đoạn cuối (đã được UBND phường Tân Thạnh xác nhận). Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo Hồ Nhật D, Lê Duy Th1 thống nhất với luận cứ của người bào chữa, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
* Các bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Công Phú T1, Phạm Hồng Ph, Đặng Công Th, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V đều không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Hồ Nhật D, Bùi Văn T, Hoàng Công Phú T1, Lưu Văn T2, Phạm Hồng Ph, Đặng Công Th, Lê Duy Th1, Mai Duy Nh, Ngô Tam Trường D1, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V đều có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên kháng cáo của các bị cáo là hợp pháp.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ngô Tam Trường D1 tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo theo quy định tại Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lưu Văn T2có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do bị bệnh; bị cáo Mai Duy Nh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, việc vắng mặt của các bị cáo này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị cáo này theo quy định tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Hồ Nhật D, Bùi Văn T, Hoàng Công Phú T1, Phạm Hồng Ph, Đặng Công Th, Lê Duy Th1, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 30/3/2022 đến ngày 13/12/2023, các bị cáo trong vụ án là thành viên của nhóm Zalo “Hóng Clip Hot” đã dùng điện thoại có kết nối internet để đăng nhập vào mạng xã hội Zalo và sử dụng tài khoản Zalo cá nhân để đăng tải tổng cộng 231 video, trong đó có 217 video, có tổng dung lượng 2.293,44MB chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy vào nhóm Zalo “Hóng Clip Hot”. Cụ thể về hành vi của các bị cáo có kháng cáo như sau: Hồ Nhật D đăng tải 04 video; Bùi Văn T đăng tải 05 video; Hoàng Công Phú T1 đăng tải 13 video; Phạm Hồng Ph đăng tải 13 video; Lưu Văn T2đăng tải 12 video; Đặng Công Th đăng tải 06 video; Nguyễn Văn B đăng tải 07 video; Ngô Tam Trường D1 đăng tải 05 video; Nguyễn Thanh T đăng tải 05 video; Nguyễn Văn Tr, Trần Tấn Anh Ng, Nguyễn Ngọc N mỗi người đăng tải 03 video; Lê Duy Th1, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Đại D2, Trần Minh Nh, Lê Nguyên P mỗi người đăng tải 02 video; Phan Xuân V, Mai Duy Nh mỗi người đăng tải 01 video. Các video đều chứa nội dung khiêu dâm, đồi trụy và mỗi video được ít nhất là 25 người, nhiều nhất là 28 người đã nhận, đã xem. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã kết án các bị cáo về tội “Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ” với các tình tiết định khung “Phổ biến cho từ 21 người đến 100 người” và “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội” theo quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 326 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hồ Nhật D, Bùi Văn T, Hoàng Công Phú T1, Lưu Văn T2, Phạm Hồng Ph, Đặng Công Th, Lê Duy Th1, Mai Duy Nh, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V thì thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự (riêng bị cáo Hồ Nhật D không được áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự); đồng thời xem xét nhân thân, vai trò, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo để làm căn cứ xử phạt bị cáo Hồ Nhật D 03 năm 06 tháng tù; bị cáo Bùi Văn T 21 tháng tù; bị cáo Hoàng Công Phú T1, Lưu Văn T2, Phạm Hồng Ph mỗi bị cáo 15 tháng tù; bị cáo Đặng Công Th, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Văn B mỗi bị cáo 12 tháng tù; bị cáo Lê Duy Th1, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Văn Tr, Trần Tấn Anh Ng mỗi bị cáo 09 tháng tù; bị cáo Mai Duy Nh, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Vân Anh T, Trần Minh Nh, Lê Nguyên P, Phan Xuân V mỗi bị cáo 06 tháng tù là có cơ sở, đúng pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo sau đây có cung cấp tài liệu chứng cứ mới như sau:
+ Bị cáo Hồ Nhật D cung cấp Đơn xác nhận của Công an phường An Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về sự việc “ngày 21/5/2025, bị cáo Hồ Nhật D có nhặt được số tiền 10 triệu đồng của ông Nguyễn Vũ Phước và đã đến Công an phường An Phú trình báo để trao trả lại toàn bộ số tiền cho ông Phước”, được UBMTTQVN phường An Phú, thanh phố Tam Kỳ cấp giấy Ghi nhận vì đã hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương; có cha là ông Hồ Nhật Tuyến là Cựu chiến binh, đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân xấu: 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; đồng thời, trong vụ án này, bị cáo giữ vai trò chính, là người lập ra nhóm zalo “Hóng Clip Hot”, cũng là người giữ quyền duyệt thành viên tham gia nhóm. Do vậy, mức án 03 năm 06 tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là không nặng, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung và đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong vụ án có đồng phạm. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.
+ Bị cáo Bùi Văn T có đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn; có người thân: Ông Bùi Mua, bà Phan Thị Hoa, ông Bùi Văn Công là người có công cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương; ông Bùi Mãi và ông Bùi Xiêm là liệt sĩ; bà Võ Thị Lọ là Bà mẹ VNAH, tuy nhiên, bị cáo không cung cấp giấy xác nhận mối quan hệ của bị cáo với những người này.
+ Bị cáo Phạm Hồng Ph cung cấp Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, có cha là Phạm Hồng Lĩnh bị bệnh suy thận, sức khoẻ yếu, không còn sức lao động; mẹ là Thái Thị Phê bị bệnh thoái cột sống đi lại rất khó khăn (đã được UBND phường An Sơn xác nhận).
+ Bị cáo Lê Duy Th1 cung cấp Đơn cứu xét với nội dung “bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi vợ và con thơ, nuôi mẹ già đang bị ung thư giai đoạn cuối (đã được UBND phường Tân Thạnh xác nhận).
+ Bị cáo Mai Duy Nh cung cấp Đơn xác nhận với nội dung “bị cáo có ông nội ruột là ông Mai Cầu được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo hiện đang là lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ già yếu, con thơ và vợ đang mang thai (đã được UBND xã Tam Xuân II xác nhận).
+ Bị cáo Nguyễn Thanh T cung cấp Đơn xác nhận với nội dung “Năm 2021 bị cáo tham gia nhập ngũ tại Lữ Đoàn 234, tỉnh Gia Lai và được tặng Giấy khen; bị cáo hiện đang là lao động chính trong gia đình nuôi con nhỏ và vợ không có việc làm ổn định (đã được UBND phường Phổ Hoà, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xác nhận).
+ Bị cáo Nguyễn Văn B cung cấp Đơn cứu xét với nội dung: gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo hiện đang nuôi mẹ già 85 tuổi bị bệnh tim mạch và nuôi con nhỏ đang tuổi ăn học (đã được UBND xã Tam Xuân 2 xác nhận); đồng thời bị cáo cung cấp các tài liệu, chứng cứ thể hiện trong quá trình công tác tại Văn phòng UBND thành phố Tam Kỳ, bị cáo được tặng nhiều Giấy khen.
+ Bị cáo Nguyễn Văn Tr cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh bản thân bị cáo hiện đang bị bệnh viêm da mãn tính; bị cáo là lao động chính trong gia đình chăm sóc vợ đang mang thai; bị cáo có bà ngoại ruột là người có công cách mạng; vào ngày 15/12/2024, bị cáo có công trong việc phát hiện hai đối tượng tên Trang và Thu có dấu hiệu đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô đề, vụ việc trên đã được Công an phường Hoà Hương lập hồ sơ khởi tố vụ án (được Công an phường Hoà Hương xác nhận).
+ Bị cáo Trần Minh Nh cung cấp Đơn xác nhận hiện bị cáo đang là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già và 03 con nhỏ trong đó có một con đang điều bệnh ung thư tuyến giáp; các giấy tờ xác nhận đã tham gia làm thiện nguyện nhiều nơi.
+ Bị cáo Trần Tấn Anh Ng cung cấp Đơn xác nhận hiện bị cáo đang là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già và con nhỏ, vợ không có việc làm ổn định.
- Bị cáo Lê Nguyên P cung cấp Đơn xác nhận hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ ốm đau.
+ Bị cáo Phan Xuân V cung cấp Đơn xác nhận hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi 03 con đang tuổi ăn học, vợ không có việc làm ổn định; có ông nội là ông Phan Thảy là người có công cách mạng bị địch bắt tù đày; được UBND xã Bình Triều cấp giấy Ghi nhận đã hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại địa phương.
+ Bị cáo Nguyễn Ngọc N cung cấp đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn.
+ Bị cáo Hoàng Công Phú T1 cung cấp Đơn xác nhận có làm việc tốt là nhận được chiếc ví mang đến công an để trả lại cho người bị đánh rơi là ông Nguyễn Sơn Trí.
+ Bị cáo Nguyễn Vân Anh T1cung cấp bản sao giấy khai sinh có con nhỏ sinh ngày 12/5/2025.
+ Bị cáo Nguyễn Đại D2 cung cấp chứng cứ hoàn cảnh gia đình khó khăn, có làm việc tốt là nhận được của rơi đem trả lại cho người mất, được công an phường tuyên dương
Xét thấy, các tình tiết mà các bị cáo nêu trên cung cấp tại cấp phúc thẩm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là không nặng, đã có sự khoan hồng, phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.
Các bị cáo còn lại không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.
Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Hồ Nhật D, Bùi Văn T, Hoàng Công Phú T1, Lưu Văn T2, Phạm Hồng Ph, Đặng Công Th, Lê Duy Th1, Mai Duy Nh, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Ngô Tam Trường D1. Phần hình phạt đối với bị cáo Duy tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng) có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18/7/2025).
2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Nhật D, Bùi Văn T, Hoàng Công Phú T1, Lưu Văn T2, Phạm Hồng Ph, Đặng Công Th, Lê Duy Th1, Mai Duy Nh, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.
3. Về hình phạt của mỗi bị cáo
- Căn cứ các điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Hồ Nhật D 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Căn cứ các điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 04/7/2024 là 02 tháng 23 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 18 (Mười tám tháng) tháng 07 (Bảy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn T215 (Mười lăm) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 06/12/2024 là 07 tháng 25 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 07 (Bảy) tháng 05 (Năm) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Hoàng Công Phú T1 15 (Mười lăm) tháng tù , được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 29/5/2024 là 01 tháng 19 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 13 (Mười ba) tháng 11 (Mười một) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng Ph 15 (Mười lăm) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến ngày 29/5/2024 là 01 tháng 19 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 13 (Mười ba) tháng 11 (Mười một) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Đặng Công Th 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 12 (Mười hai) tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tr 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Trần Tấn Anh Ng 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Lê Duy Th1 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vân Anh T106 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đại D2 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Trần Minh Nh 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Lê Nguyên P 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Căn cứ các điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Xử phạt: Bị cáo Phan Xuân V 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt: Bị cáo Mai Duy Nh 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Các bị cáo đều bị kết án về tội “Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ”.
4. Về án phí: Các bị cáo Hồ Nhật D, Bùi Văn T, Hoàng Công Phú T1, Lưu Văn T2, Phạm Hồng Ph, Đặng Công Th, Lê Duy Th1, Mai Duy Nh, Nguyễn Đại D2, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Vân Anh T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn Tr, Trần Minh Nh, Trần Tấn Anh Ng, Lê Nguyên P, Phan Xuân V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (18/7/2025).
| Nơi nhận: - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Phòng PV06 Công an TP. Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa Hình sự. CÁC THẨM PHÁN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Phú HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Phú |