vanban.org

Bản án 130/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 10/09/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/09/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Quách Quốc T. Sửa bản án hình sự s thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện C về phần hình phạt.

Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Châu Thị Bích H. Tuyên bố: Bị cáo Quách Quốc T phạm t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ” và t i “Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Quốc T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Quách Quốc T. Sửa bản án hình sự s thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện C về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HS-PT
Ngày 10 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tấn Tài.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn; ông Đào Chí Keo.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Quách Quốc T. Do có kháng cáo của bị cáo Quách Quốc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Thị Bích H đối với Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang.

Bị cáo kháng cáo: Quách Quốc T, sinh năm 1992 tại tỉnh Sóc Trăng; n i đăng ký h khẩu thường trú và ch ở: Ấp T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; dân t c: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; nghề nghiệp: Lái xe; trình đ văn hóa: 9/12; con ông Quách Tài T1 và bà Trư ng Thu D; vợ Trần Thị Trúc L; con : 02 người; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị b t tạm giam t ngày 27/10/2023 cho đ n nay có m t .

- Người bào chữa cho bị cáo Quách Quốc T: Ông Nguyễn Văn N – Luật sư Văn phòng L1 (chi nhánh S ; địa chỉ: số B Q, khóm A, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có m t)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Châu Thị Bích H, sinh năm 1985; n i đăng kí h khẩu thường trú và ch ở: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có m t)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H: Ông Nguyễn Văn N – Luật sư Văn phòng L1 (chi nhánh S ; địa chỉ: số B Q, khóm A, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

(Trong vụ án còn có người tham gia tố tụng khác, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 05/3/2023, Quách Quốc T điều khiển xe ô tô con 04 ch biển số: 83A - 137.29 chạy trên Quốc l I hướng L - C. Khi đ n khu vực km 70 + 850 thu c khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang do không chú ý quan sát T điều khiển xe đụng vào phía sau xe ô tô con 04 ch biển số: 51G - 613.81 do Vòng Mỹ T3 điều khiển đang chạy cùng chiều phía trước làm xe ô tô con biển số: 51G - 613.81 trượt về phía trước, đầu xe của T3 va chạm với đuôi xe ô tô tải không rõ biển số đang chạy cùng chiều làm xe ô tô con biển số: 51G - 613.81 bị hư hỏng.

K t quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phư ng tiện phù hợp với n i dung vụ án như đã nêu trên.

Tang vật thu giữ gồm có: Xe ô tô con biển số: 83A-137.29, số máy: G4LCNU758445, nhãn hiệu: Huynhdai, màu s n: tr ng; giấy biên nhận th chấp Ngân hàng Thư ng mại Cổ phần V1, n i dung: giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phư ng tiện giao thông, có giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000197 bản phô tô kèm theo; xe ô tô con biển số: 51G-613.81, số máy: P520502185, nhãn hiệu: Mazda, màu s n: xanh, 01 sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật số: 3331576; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 365748 bản phô tô , đã trao trả cho Nhan Vi T2; giấy biên nhận th chấp ngân hàng Thư ng mại Cổ phần Đ bản phô tô . Tạm giữ của Quách Quốc T: 01 giấy phép lái xe hạng C số: 790201526959 tên Quách Quốc T, ngày sinh: 06/6/1992, n i thường trú: ấp T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng ghi Sở Giao thông Vận tải Thành phố H cấp có giá trị đ n ngày 08/10/2025; 01 USB màu tr ng, trên USB có chữ Kingston. Tạm giữ của Vòng Mỹ T3: 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 791133019697 do Sở Giao thông Vận tải Thành phố H cấp có giá trị đ n ngày 27/12/2028, đã trao trả cho Vòng Mỹ T3.

Căn cứ Bản k t luận định giá tài sản số 25/KL.HĐ ngày 05/5/2023 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang, k t luận: Xe ô tô biển số: 51G-613.81, màu s n: đen; loại phư ng tiện: ô tô con; nhãn hiệu: Mazda 3. Các loại phụ tùng xe bị hư hỏng m t phần và hư hỏng hoàn toàn cần phải sửa chữa, phục hồi, thay th các loại phụ tùng tính trọn gói là 152.096.640 đồng đính kèm báo giá sửa chữa của Công ty trách nhiệm hữu hạn m t thành viên Ô, ngày 06/3/2023 . Tổng giá trị tài sản định giá là: 152.096.640 đồng Bằng chữ: M t trăm năm mư i hai triệu, không trăm chín mư i sáu ngàn, sáu trăm bốn mư i ngàn đồng .

Căn cứ K t luận giám định số 242/KL-KTHS KTSĐT-GT) ngày 04/7/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, k t luận: Trích xuất 10 mười ảnh t dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong USB ký hiệu A do C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang gửi giám định, chi ti t thể hiện trong phụ lục kèm theo. Kèm theo k t luận giám định: 01 (m t phụ lục gồm 04 trang A4.

Căn cứ K t luận giám định số 131/KL-KTHS(TL-GT) ngày 19/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, k t luận: Giấy Phép lái xe gửi đ n giám định là giả.

Tại Cáo trạng số: 11/CT-VKS-HS ngày 15/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố Quách Quốc T về t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 và t i “Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 B luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự s thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, đã quy t định:

Tuyên bố: Bị cáo Quách Quốc T phạm t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ” và t i “Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Quách Quốc T 03 ba năm tù về t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ” và 06 sáu tháng tù về t i “Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 B luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 02 t i bu c Quách Quốc T phải chấp hành là 03 ba năm 06 sáu tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày b t tạm giữ, tạm giam ngày 27/10/2023 .

Ngoài ra, án s thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử s thẩm, các ngày 15, 17/4/2024 bị cáo Quách Quốc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Châu Thị Bích H kháng cáo yêu cầu hủy bản án s thẩm để định giá lại giá trị tài sản hư hỏng, không đồng ý bồi thường theo quy t định của bản án, giá trị định giá là quá cao và chưa hợp lý.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Quách Quốc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Thị Bích H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất, mức đ , hành vi phạm t i của bị cáo; xem xét các tình ti t tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu kháng cáo. Đề nghị H i đồng xét xử:

- Về hình thức: Đ n kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có n i dung, yêu cầu rõ ràng, gửi trong hạn luật định nên đủ c sở xét xử theo trình tự phúc thẩm.

- Về n i dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa s thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm t i như n i dung vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, k t luận giám định, k t luận định giá cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án.

Như vậy, bị cáo Quách Quốc T đã có hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả điều khiển xe ô tô biển số 83A - 137.29 chạy trên Q hướng L - C không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn gây tai nạn giao thông với xe ô tô biển số 51G - 613.81 do Vòng Mỹ Thu điều khiển cùng chiều phía trước. Hậu quả làm xe ô tô biển số 51G - 613.81 bị hư hỏng, các loại phụ tùng xe bị hư hỏng m t phần và hư hỏng hoàn toàn cần phải sửa chữa, phục hồi, thay th tính trọn gói 152.096.640 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu định t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 và khoản 1 Điều 341 B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tòa án nhân dân huyện C k t án bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét thấy, cấp s thẩm đã xem xét, đánh giá áp dụng đầy đủ, đúng các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo quy t định xử phạt bị cáo Quách Quốc T 03 năm 06 tháng tù. Đây là mức hình phạt tư ng xứng với tính chất, mức đ và hành vi phạm t i của bị cáo, có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ng a chung.

Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp biên lai thu tiền ngày 08/7/2024 đã n p kh c phục hậu quả 30.000.000 đồng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo, yêu cầu hủy Bản án s thẩm để định giá lại giá trị tài sản bị thiệt hại nhưng không cung cấp tình ti t mới.

Xem xét toàn diện vụ án, thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa s thẩm, bị cáo Quách Quốc T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt; trình đ học vấn thấp nên hiểu bi t pháp luật có phần hạn ch . Đây là các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Giai đoạn phúc thẩm bị cáo n p kh c phục hậu quả số tiền 30.000.000 đồng, đây là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 mới phát sinh ở giai đoạn phúc thẩm, do đó đề nghị có xem xét giảm nhẹ m t phần hình phạt cho bị cáo, cụ thể giảm t 09 tháng đ n 01 năm tù về t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .

Đối với K t luận định giá tài sản số 25/KL.HĐ ngày 05/5/2023, báo cáo giải trình số 01/HĐĐG ngày 04/9/2024 của H i đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện C đã thể hiện rõ căn cứ để k t luận giá trị tài sản bị thiệt hại trong vụ án. Do đó, yêu cầu hủy Bản án s thẩm để định giá lại giá trị tài sản bị thiệt hại của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Thị Bích H là không có c sở xem xét.

Đề nghị H i đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 B luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 B luật Tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa Bản án s thẩm về hình phạt.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 55 B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Quách Quốc T 02 năm đ n 02 năm 03 tháng tù, về t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ” và 06 tháng tù, về t i “Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt bu c bị cáo Quách Quốc T phải chấp hành chung cho 02 t i là 02 năm 06 tháng tù đ n 02 năm 09 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày b t tạm giữ, tạm giam ngày 27/10/2023 .

- Người bào chữa cho bị cáo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H trình bày: Không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, bởi:

Thứ nhất, xét về l i gây ra thiệt hại cho xe 51G-613.81: c quan điều tra chưa làm rõ người bị hại có l i hay không? Lý do tại sao xe tải phía trước lại đ t ng t d ng, việc d ng xe này phía xe tải có l i hay không để t đó xác định, khi xe tải d ng đ t ng t thì xe bị hại đụng vào đuôi xe tải trước hay là xe bị cáo đụng vào vị trí đuôi xe của bị hại trước. Do đó, việc chưa làm rõ được y u tố l i của các bên trong vụ án nhưng cấp s thẩm đã xác định l i là hoàn toàn do bị cáo là chưa có căn cứ và chưa phù hợp với thực t vụ án xảy ra.

Thứ hai, xét về thiệt hại tài sản trong vụ án: Xe ô tô con biển số 51G-613.81 bị thiệt hại đăng ký lần đầu vào năm 2018, đ n khi bị gây thiệt hại đã qua sử dụng 05 năm nhưng khi định giá thiệt hại không khấu hao tài sản là không phù hợp. Ngoài ra, tại biên bản ngày 05/3/2023 thiệt hại ban đầu chỉ có 08 món phụ tùng hư hỏng. Trong các biên bản xem xét thiệt hại có bị cáo chứng ki n lại thể hiện 22 phụ tùng bị hư hỏng nhưng khi giám định đ n 33 phụ tùng cần thay th là không phù hợp. Đồng thời, khi H i đồng định giá ti n hành định giá tài sản đã c ng thêm tiền công, tiền thu để tính giá trị tài sản bị thiệt hại. T đó có thể xác định, k t luận định giá tài sản của H i đồng là chưa phù hợp với quy định của pháp luật.

T các phân tích nêu trên, đề nghị H i đồng xét xử hủy bản án s thẩm để điều tra bổ sung, làm rõ các vấn đề v a nêu trên.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Châu Thị Bích H thống nhất lời trình bày của luật sư, không bào chữa và tranh luận thêm.

Trong phần đối đáp m t lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị. Đề nghị H i đồng xét xử xem xét và quy t định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đ n kháng cáo của bị cáo Quách Quốc T và bà Châu Thị Bích H làm trong thời hạn luật định, đ n hợp lệ nên được H i đồng xét xử chấp nhận để xem xét giải quy t theo trình tự phúc thẩm.

Về hành vi, quy t định tố tụng của C quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử s thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa s thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý ki n ho c khi u nại gì. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của C quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về n i dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Quách Quốc T đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình như n i dung bản án s thẩm đã tóm t t nêu trên. Do đó, có đủ c sở k t luận:

Ngày 05/3/2023, Quách Quốc T đã có hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả điều khiển xe ô tô con biển số: 83A - 137.29 chạy trên Q hướng L - C, khi đ n khu vực km 70 + 850 thu c khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn gây tai nạn giao thông với xe ô tô con biển số: 51G - 613.81 do Vòng Mỹ Thu điều khiển cùng chiều phía trước. Hậu quả: Xe ô tô con biển số: 51G - 613.81 bị hư hỏng, các loại phụ tùng xe bị hư hỏng m t phần và hư hỏng hoàn toàn cần phải sửa chữa, phục hồi, thay th các loại phụ tùng tính trọn gói là 152.096.640 đồng.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp s thẩm xét xử bị cáo Quách Quốc T t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ” và “Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức” theo điểm a khoản 2 Điều 260 và khoản 1 Điều 341 của B luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Quách Quốc T, yêu cầu hủy bản án s thẩm để định giá lại giá trị tài sản hư hỏng, không đồng ý bồi thường theo quy t định của bản án, giá trị định giá là quá cao và chưa hợp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Thị Bích H, H i đồng xét xử xét thấy:

- Về yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Quách Quốc T: Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng bằng lái xe giả để tham gia giao thông là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo vẫn bất chấp hậu quả khi điều khiển xe oto con biển số: 83A - 137.29 tham gia giao thông và gây ra tai nạn giao thông. Hành vi phạm t i của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, trực ti p xâm phạm đ n an toàn công c ng, hoạt đ ng đúng đ n trong việc cấp giấy tờ của c quan Nhà nước, sự hoạt đ ng bình thường của các phư ng tiện giao thông đường b , tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phư ng, làm quần chúng nhân dân bất bình và lo l ng m i khi khi tham gia giao thông. Xét thấy, Cấp s thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức đ , hành vi phạm t i của bị cáo, khi quy t định hình phạt đã xem xét các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 03 năm tù về t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ” và 06 tháng tù về t i “Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức” là phù hợp với quy định pháp luật, tư ng xứng với tính chất, mức đ và hành vi phạm t i của bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã n p số tiền 30.000.000 đồng để kh c phục m t phần hậu quả n p theo biên lai thu số 0002329 ngày 08/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang, đây là tình ti t, chứng cứ giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm. Đồng thời, xét về tính chất vụ tai nạn giao thông chỉ gây ra thiệt hại tài sản chứ không gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người, giá trị tài sản hư hỏng không lớn, số tiền thiệt hại chỉ có 152.000.000 đồng, v a đủ định lượng để truy tố bị cáo về t i “Vi phạm quy định về giao thông đường b ” theo quy định tại Điều 260 của B luật Hình sự. Do đó, H i đồng xét xử có c sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ m t phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với kháng cáo yêu cầu hủy Bản án s thẩm để định giá lại giá trị tài sản hư hỏng, không đồng ý bồi thường theo quy t định của bản án, giá trị định giá là quá cao và chưa hợp lý của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – Châu Thị Bích H:

Tại phiên tòa phúc thẩm, H i đồng xét xử phúc thẩm cũng đã triệu tập H i đồng định giá trong hình sự huyện C ra phiên tòa để giải thích k t luận định giá tài sản số 05/KL.HĐ ngày 25/5/2023. Tại phiên tòa phúc thẩm, H i đồng định giá đã trình bày như sau:

Thứ nhất, về Biên bản khám nghiệm phư ng tiện của Phòng C - Công an tỉnh và C quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, xác định:

- Theo Biên bản khám nghiệm phư ng tiện ngày 07/3/2023 của Phòng C đường b - Công an tỉnh A lập thì xe ô tô BS 51G-613.81 bị hư hỏng 11 vùng đính kèm Biên bản : Đối với công tác khám nghiệm phư ng tiện tại n i xảy ra tai nạn giao thông được ghi nhận bằng hình ảnh tổng quan hiện trường, chưa tháo rã phư ng tiện, để xác định các vùng bị ảnh hưởng trên thân xe, cụ thể ghi nhận là 11 n i dung liên quan, hay còn gọi là 11 vùng bị hư hỏng. M t khác, nhiệm vụ của Cảnh sát giao thông còn phải sớm điều ti t, phân luồng giao thông, không để xảy ra t c nghẽn giao thông kéo dài tại n i xảy ra tai nạn.

- Theo Biên bản khám nghiệm phư ng tiện ngày 14/4/2023 của C quan điều tra – Công an huyện C thể hiện xe ô tô BS 51G-613.81 bị hư hỏng 22 ch hư hỏng đính kèm Biên bản : Sau khi ti p nhận vụ việc, Công an huyện C đã trực ti p khám nghiệm phư ng tiện tại Trụ sở Công an huyện, có sự chứng ki n và xác nhận của các bên liên quan, ghi nhận bằng hình ảnh các chi ti t nhìn thấy được, cũng chưa tháo rã phư ng tiện, ghi nhận 22 chi ti t phụ tùng hư hỏng, hay còn gọi là 22 ch hư hỏng trong 11 vùng được xác định ban đầu.

Thứ hai, theo yêu cầu của Công an huyện C, H i đồng định giá đã đề nghị Công ty TNHH MTV Ô gọi t t là Công ty M) (TP. L báo giá với danh sách 22 món phụ tùng. Sau khi nghiên cứu hồ s và khảo sát thực t , Công ty M đã cung cấp Báo giá sửa chữa đính kèm báo giá ngày 06/3/2023 với 33 chi ti t phụ tùng + khí gas + chi phí khác liên quan, do m t món phụ tùng có nhiều chi ti t linh kiện khác k t hợp. Đây là báo giá s b dựa trên hình ảnh được c quan chức năng cung cấp, Công ty M chưa mang xe về xưởng tháo rã chi ti t. M t khác, trong quá trình sửa chữa ch c ch n sẽ có những phát sinh ngoài danh sách 22 món phụ tùng đề nghị báo giá như: hư hỏng 01 bên bản lề nhưng phải thay th cả 02 bên; ổ khoá ngầm n p capo chưa được thể hiện; cụm đèn thì có ki ng choá đèn, bóng đèn, đuôi đèn;...

Thứ ba, đối với:

- Công sửa s n các chi ti t phụ tùng thay th : Phụ tùng thay th như phôi CAPO và các phụ tùng khác liên quan hãng không s n sẵn do tránh bị trầy xước màu s n trong quá trình vận chuyển phụ tùng, do đó phát sinh thêm chi phí và công s n.

- Căn cứ để tính tiền công sửa chữa và tiền thu giá trị gia tăng: Chi phí tiền công sửa chữa áp dụng theo biểu giá thị trường và giá niêm y t của Công ty. Trong đó, ngoài công sửa chữa phần cứng, còn phải cân chỉnh lại phư ng tiện sau khi bị hư hỏng, bi n dạng; hệ thống điện, điện tử bị ảnh hưởng… Tiền thu , phí áp dụng theo quy định hiện hành.

Do đó, có thể xác định việc H i đồng định giá tài sản hư hỏng với 33 món phụ tùng là có căn cứ, là c sở để xác định giá trị tài sản hư hỏng là 152. 096.640 đồng và chi phí kéo xe là 5.000.000 đồng. Tổng c ng là 157.096.640 đồng là phù hợp. Việc cấp s thẩm tuyên bu c bị cáo Quách Quốc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Thị Bích H liên đới bồi thường cho bị hại Vòng Mỹ Thu số tiền là 157.000.000 đồng là có căn cứ.

Bà H kháng cáo yêu cầu hủy bản án s thẩm, định giá lại giá trị tài sản hư hỏng, không đồng ý bồi thường theo quy t định của bản án, giá trị định giá là quá cao và chưa hợp lý nhưng không có tình ti t, chứng cứ nào mới để H i đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo của bà H. Do đó, H i đồng xét xử cần giữ nguyên đối với phần bồi thường thiệt hại tài sản, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Châu Thị Bích H.

T những phân tích trên, quan điểm bào chữa cho bị cáo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại của luật sư không có căn cứ để H i đồng xét xử chấp nhận.

Quan điểm của Viện kiểm sát cùng cấp không trái với quan điểm của H i đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Quách Quốc T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bà Châu Thị Bích H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 B luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Quách Quốc T. Sửa bản án hình sự s thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện C về phần hình phạt.

Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Châu Thị Bích H.

Tuyên bố: Bị cáo Quách Quốc T phạm t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ” và t i “Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 55 của B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Quách Quốc T 01 m t năm 06 sáu tháng tù về t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ” và 06 sáu tháng tù về t i “Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức”.

Tổng hợp hình phạt bu c bị cáo phải phải chấp hành chung cho 02 t i là 02 Hai năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày b t tạm giữ, tạm giam (ngày 27/10/2023).

Áp dụng Điều 48, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 và Điều 601 của B luật Dân sự 2015: Bu c Châu Thị Bích H và Quách Quốc T liên đới bồi thường cho V Mỹ Thu số tiền tổng c ng là 157.000.000đ M t trăm năm mư i bảy triệu đồng .

Kể t ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đ n yêu cầu thi hành án, n u người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 B luật Dân sự 2015.

Ti p tục tạm số tiền 30.000.000đ Ba mư i triệu đồng của bị cáo Quách Quốc T (do Châu Thị Bích H n p thay theo Biên lai thu số 0002329 ngày 08/9/2024 tại Chi Cục thi hành án huyện C để đảm bảo thi hành án.

Bà Châu Thị Bích H phải chịu án phí dân sự 300.000đ Ba trăm nghìn đồng án phí hình sự phúc thẩm, được khấu tr theo biên lai thu số 0004601 ngày 17/4/2024 n p tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đã n p xong

Các phần Quy t định khác của Bản án hình sự s thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể t ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ