vanban.org

Bản án 130/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị S về việc yêu cầu ly hôn anh Ngô Văn Đ.

Chị Trịnh Thị S được ly hôn anh Ngô Văn Đ. Về con chung: Giao cháu Ngô Tấn Đ1, sinh ngày 22-9-2009 cho chị Trịnh Thị S tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Thị S - Ngô Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị S về việc yêu cầu ly hôn anh Ngô Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 24-9-2024.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Lãm;

Ông Tạ Kỳ Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị S, sinh năm 1987 – Xin vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1980 - Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Khu phố L K, phường G L, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trịnh Thị S trình bày:

Chị và anh Đ chung sống với nhau từ năm 2006, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã G L, huyện Trảng Bàng (nay là phường G L, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với cha mẹ ruột của chị S tại ấp L K, xã G L, huyện Trảng Bàng (nay là khu phố L K, phường G L, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ không quan tâm, lo lắng cho vợ con; ngoài ra chị còn nghi ngờ anh Đ có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Chị đã nhiều nộp đơn ly hôn anh Đ, nhưng do anh Đ năn nỉ, hứa sẽ thay đổi nên chị rút đơn. Tuy nhiên, sau khi chị rút đơn anh Đ vẫn không thay đổi nên vợ chồng không thể chung sống hạnh phúc lại được. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 đến nay nhưng vẫn sống chung nhà, anh Đ đi làm từ một đến hai tuần mới về nhà một lần. Từ khi ly thân chị và anh Đ không ai đặt vấn đề đoàn tụ.

Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ngô Tấn Đ1, sinh ngày 22-9-2009, hiện đang sống chung với chị S. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ1, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Ngô Văn Đ trình bày:

Lời trình bày của anh Đ và chị S về thời gian chung sống, con chung, tài sản chung và nợ chung thống nhất nhau. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo anh Đ trình bày do từ dịch Covid-19 năm 2021, anh Đ đi làm không có tiền nên không phụ tiền chị S nuôi con. Đến năm 2022, anh đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh từ một đến hai tuần mới về nhà một lần nên chị S ghen tuông và vợ chồng gây gỗ nhau.

Nay anh yêu cầu được đoàn tụ với chị S vì anh còn thương vợ, con.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ngô Tấn Đ1, sinh ngày 22-9-2009 hiện đang sống chung nhà với vợ chồng.

Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, anh đồng ý giao cháu Đ1 cho chị S nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về quyền và nghĩa vụ của bị đơn.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trịnh Thị S yêu cầu được ly hôn anh Ngô Văn Đ.

Về con chung: Giao cháu Ngô Tấn Đ1, sinh ngày 22-9-2009 cho chị Trịnh Thị S được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị S không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trịnh Thị S vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Ngô Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã G L, huyện Trảng Bàng (nay là phường G L, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh nên được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ năm 2020 đến nay mà không ai đặt vấn đề đoàn tụ. Nguyên nhân mâu thuẫn là về kinh tế gia đình, chị S cho rằng anh Đ không quan tâm, lo lắng cho vợ con; ngoài ra chị S mất lòng tin với anh Đ về chuyện tình cảm. Nay chị S yêu cầu ly hôn, anh Đ yêu cầu đoàn tụ nhưng không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa, cho thấy anh Đ không có thiện chí hàn gắn với chị S. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị S và anh Đ trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị S được ly hôn anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị S và anh Đ có 01 con chung là cháu Ngô Tấn Đ1, sinh ngày 22-9-2009. Cháu Đ1 hiện đang sống chung với chị S từ khi chị S và anh Đ ly thân. Nay chị S yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đ1, anh Đ cũng đồng ý giao cháu Đ1 cho chị S nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hỏi ý kiến cháu Đ1, cháu cũng có nguyện vọng được theo sống với chị S, nên Hội đồng xét xử giao cháu Đ1 cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Ghi nhận chị S không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Như phân tích trên, có căn cứ chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án.

Án phí: Chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị S về việc yêu cầu ly hôn anh Ngô Văn Đ.

Chị Trịnh Thị S được ly hôn anh Ngô Văn Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Ngô Tấn Đ1, sinh ngày 22-9-2009 cho chị Trịnh Thị S tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận chị S không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Án phí: Chị Trịnh Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014839 ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; chị S đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Báo cho chị S, anh Đ biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ