- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thu T ly hôn Nguyễn Duy T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Duy T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15/4/2024 V/v tranh chấp: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc An.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Vân.
2. Bà Lê Thị Ngọc Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông La Tương Lai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền, Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 474/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1996.(có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp RC, xã BN, huyện GCĐ, Tiền Giang.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1994.(vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp HT, xã PT, huyện GCĐ, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự ngày 20 tháng 11 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thu T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Duy T kết hôn và sống chung từ năm 2019, đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã PT, huyện GCĐ. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T2 tính tình gia trưởng, mỗi lần cải nhau là anh T2 đánh đập chị T, ngoài ra anh T2 có quan hệ với người phụ nữ khác và còn dẫn về nhà, đăng ảnh lên facebook, sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Vợ chồng không có hàn gắn trao đổi tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay không còn tình cảm với anh T2 nên chị T yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Duy T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trần Thiên P, sinh ngày 30/4/2021, hiện đang sống chung với chị T. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Thiên Phong, không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Nguyễn Duy T đã được tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Thu T.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, xác minh thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án và tuân thủ đúng thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại các Điều 26 đến Điều 40; Điều 68; Điều 93 đến Điều 97; Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện theo đúng quy định tại các điều 70, 71, 72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thu T, cho chị Trần Thị Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Duy T, giao con chung tên Nguyễn Trần Thiên P cho chị T nuôi dưỡng, anh T2 không phải cấp dưỡng chị T không yêu cầu; tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết; chị T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn chị Trần Thị Thu T có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Duy T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu T và anh Nguyễn Duy T kết hôn năm 2019, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã PT, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 59/2019 ngày 05/8/2019, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Chị Trần Thị Thu T cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T2 tính tình gia trưởng, mỗi lần cải nhau là anh T2 đánh đập chị T, ngoài ra anh T2 có quan hệ với người phụ nữ khác và còn dẫn về nhà, đăng ảnh lên facebook, sống ly thân từ tháng 12 năm 2020 cho đến nay. Nay không còn tình cảm với anh T2 nên chị T xin ly hôn với anh Nguyễn Duy T.
Bị đơn anh Nguyễn Duy T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không nộp bản tự khai, vắng mặt tại các phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại các phiên tòa.
Xét, chị Trần Thị Thu T và anh Nguyễn Duy T mâu thuẫn đã trầm trọng, thường xuyên cải vã, anh T2 đánh đập chị T và còn có quan hệ với người phụ nữ khác; anh T2 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; giữa chị Trần Thị Thu T và anh Nguyễn Duy T không còn sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chị Trần Thị Thu T xin ly hôn anh Nguyễn Duy T là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Ngoài ra qua xác minh của chính quyền dịa phương cho biết nguyên nhân mâu thuẫn và điều kiện nuôi con thì chính quyền địa phương không nắm rõ. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trần Thiên P, sinh ngày 30/4/2021, hiện đang sống chung với chị T. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thiên Phong, không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con.
Xét, anh Nguyễn Duy T cũng không có ý kiến gì về yêu cầu nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con chung của chị T và cháu Thiên Phong hiện đang ở cùng với chị T, nên yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trần Thiên P, sinh ngày 30/4/2021của chị T là có căn cứ, phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị Thu T trình bày không có, anh Nguyễn Duy T cũng không có ý kiến gì về tài sản cũng như nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GCĐ, là có căn cứ.
Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Duy T.
- Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Trần Thiên P, sinh ngày 30/4/2021 cho chị Trần Thị Thu T nuôi dưỡng, anh Nguyễn Duy T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Trần Thị Thu T không có yêu cầu.
Anh Nguyễn Duy T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013070 ngày 11/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang, nên xem như đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát ND huyện GCĐ; - Chi cục THADS huyện GCĐ; - UBND xã PT,huyện GCĐ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc An |