- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Đình M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 130/2023/HSST Ngày 18/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tiến Dũng;
Bà Trần Thị Liên;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà H Michan Niê- Kiểm sát viên;
Ngày 18 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 107/2022/HSST, ngày 18 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: VÕ ĐÌNH M (E); Sinh ngày 17 tháng 7 năm 1990; Tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Võ Đình D và bà Trịnh Thị Thu T; Bị cáo có vợ Đặng Thị Thu T (hiện đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án;
Tại Bản án số 43/2017/HSST ngày 17/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản";
Tại Bản án số 20/2017/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản";
Tại Quyết định số 01/2017/QĐ – THHP ngày 16 tháng 11 năm 2017, Chánh án Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù tại Bản án số 43/2017/HSST ngày 17/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk và 01 năm 03 tháng tù tại Bản án số 20/2017/HSST ngày 18/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk, buộc Võ Đình M chấp hành hình phạt chung là 03 năm 09 tháng tù. Ngày 24/4/2020, chấp hành xong án phạt tù. Bị cáo chưa chấp hành xong trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại tại Bản án số 20/2017/HSST ngày 18/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
Nhân thân:
Tại Quyết định số 4970/QĐ-CT ngày 21/11/2005, bị chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng, về hành vi "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản"; Ngày 25/11/2007 chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính;
Tại Bản án số 39/2009/HSST ngày 07/9/2009, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản”; Ngày 12/5/2010, chấp hành xong án phạt tù;
Tại Bản án số 18/2013/HSST ngày 20/5/2013, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; ngày 22/4/2014, chấp hành xong án phạt tù;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa;
Người bị hại:
1. Ông Y Q, sinh năm 1994 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Buôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
2. Ông Nguyễn Bảo N, sinh năm 2000 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Đường T, tổ dân phố A, phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Ngô Minh S, sinh năm 1973 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
2. Ông Y N, sinh năm 1993 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Buôn S, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
3. Ông Vương Thành C, sinh năm 1992 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Đường L, tổ dân phố H, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk;
Người chứng kiến:
1. Bà Trương Thị Hồng H, sinh năm 1954 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
2. Bà Phạm Thị Như H, sinh năm 1972 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Đình M là đối tượng nghiện ma túy đá (Methamphetamime). Do không có việc làm, để có ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân nên M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 10/11/2022, M mang theo trong người 01 thanh kim loại hình trụ tròn chữ L và 02 thanh kim loại hình trụ dài 08cm, một đầu dẹt, 01 đầu hình trụ lục giác (gọi là Vam phá khóa) một mình đón xe buýt từ thành phố B đến thị xã B tìm kiếm tài sản của người dân để trộm cắp. Khi đến địa bàn phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk M xuống xe và đi bộ vào đường L, tổ dân phố H, phường T, thị xã B thấy trước nhà anh Vương Thành C có 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát XXX của anh Nguyễn Bảo N đang dựng trên hiên nhà anh C không có người trông coi nên M lại gần rồi dùng bộ vam phá khóa mở khóa xe, nổ máy điều khiển xe về thành phố B để tiêu thụ. M điều khiển xe đến khu vực đường N, phường T, thành phố B gặp một người nam giới tên "T" (không rõ lai lịch) nhờ bán chiếc xe và mua ma túy về sử dụng. Sau đó "T" điều khiển xe mô tô (không rõ biển số, loại xe) đến khu vực đường P, phường T, thành phố B, còn M điều khiển xe vừa trộm được theo sau. Đến nơi, M gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) thỏa thuận giá bán xe là 3.500.000đ thì người này đưa cho M 02 gói nylon chứa ma túy đá (tương đương với số tiền 1.000.000đ), số tiền còn lại 2.500.000đ hẹn đến khu vực đường N, phường T, thành phố B sẽ giao đủ. Khi M đang điều khiển xe đến trước địa chỉ số 34 N, phường T, thành phố B thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải M đang mặc 02 gói nylon bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng đã được niêm phong theo quy định pháp luật và 01 xe mô tô BKS XXX cùng một số đồ vật, tài sản khác có liên quan;
Quá trình điều tra, còn xác định vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 04/11/2022, M một mình đón xe thồ của một người đàn ông (không rõ lai lịch) đến khu vực xã H, thành phố B để quan sát tìm người dân sơ hở về tài sản để lấy trộm. Đến nơi, M xuống xe rồi đi bộ trong khu vực xã H. Khoảng 03 giờ 00 ngày 05/11/2022, khi đi ngang qua ngôi nhà của anh Y Q thấy cửa cổng bằng kim loại (loại cổng kéo ngang), bên trong khuôn viên sân có mái che, góc hông phải ngôi nhà (theo hướng từ ngoài nhìn vào) có 01 chiếc xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu đen biển kiểm soát XXX1 của anh Y Q đang dựng chân chống nghiêng, chìa khóa đang cắm trên ổ khoá điện của xe, bên trong cốp xe có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy mang tên Y N, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện môtô – xe máy mang tên Y N và 01 chứng minh nhân dân (bản phôtô) mang tên Y N không có người trông coi nên M đi qua cửa cổng đến khuôn viên sân lén lút dắt xe môtô biển kiểm soát XXX1 ra ngoài cổng sân rồi nổ máy, điều khiển xe tẩu thoát. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, M điều khiển chiếc xe vừa trộm được đến tiệm cầm đồ S, của anh Ngô Minh S tại đường P, phường T, thành phố B cầm cố chiếc xe với giá 8.000.000 đồng nhưng không nói cho anh S biết là xe trộm cắp được rồi M đi về tiêu xài cá nhân hết số tiền trên;
Ngày 12/11/2022, anh Ngô Minh S đã tự nguyện giao nộp chiếc xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát XXX1 cùng các giấy tờ liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột;
Tại Kết luận giám định số 1136/KL – KTHS ngày 16/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk đã kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,5535 gam;
Tại Kết luận định giá tài sản số 211/KL- HĐĐGTS ngày 20/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đen, biển số XXX1, tài sản đã qua sử dụng, tài sản thu hồi được (thời điểm định giá ngày 05/11/2022) giá trị là 12.800.000đ (Mười hai triệu tám trăm ngàn đồng);
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản 4687 – UBND thị xã Buôn Hồ ngày 04/01/2023 đã kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển kiểm soát XXX (thời điểm định giá ngày 10/11/2022), giá trị 7.400.000đ (Bảy triệu bốn trăm ngàn đồng);
Tại bản cáo trạng số: 122/CT- VKS, ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Võ Đình M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Võ Đình M khai nhận hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và đúng như nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Đình M như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Võ Đình M mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Võ Đình M mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo chấp hành là 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù;
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xử lý vật chứng
Đối với 0,5321 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu trong gói niêm phong số 1136/KL – KTHS ngày 16/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk; 01 bộ vam phá khóa gồm: 01 thanh kim loại hình trụ tròn chữ L, 02 thanh kim loại hình trụ, dài khoảng 8cm, một đầu dẹt, một đầu hình trụ lục giác là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy;
Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh kèm sim là tài sản của bị cáo Võ Đình M không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án;
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho người bị hại là ông Y Q 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu đen, BKS XXX1, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 025470 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện môtô - xe máy (đều mang tên Y N); Trả lại cho ông Nguyễn Bảo N 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu xanh, BKS XXX1;
Đối với 01 biên nhận thế chấp giữa Võ Đình M và dịch vụ Cầm đồ S, 01 chứng minh nhân dân (bản photo) mang tên Y N và 01 chứng minh nhân dân mang tên Võ Đình M (bản photo) là vật chứng của vụ án, cần tiếp tục lưu trữ hồ sơ vụ án.
Về phần dân sự của vụ án:
Quá trình điều tra, người bị hại ông Y Q và ông Nguyễn Bảo N đã nhận lại tài sản; không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm;
Buộc bị cáo Võ Đình M có trách nhiệm bồi thường cho ông Ngô Minh S (chủ tiệm cầm đồ S) số tiền 8.000.000đ là giá trị tài sản cầm cố nhưng đã chi tiêu cá nhân hết;
Bị cáo không tranh luận gì đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột; chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng;
Về hành vi của bị cáo, xét thấy:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/11/2022 tại trước số nhà 34 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Võ Đình M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5535gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân, khi chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật;
Ngoài ra, vào ngày 04/11/2022 và ngày 10/11/2022, tại địa bàn xã H, thành phố B và tại phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, Võ Đình M còn có hành vi lén lút trộm cắp của ông Y Q 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát XXX1 trị giá 12.800.000đ; trộm cắp của ông Nguyễn Bảo N 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát XXX, trị giá 7.400.000đ; tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 20.200.000đ;
Như vậy hành vi bị cáo Võ Đình M thực hiện đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
1. " Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm"
Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 0,1 đến dưới 05 gam;
…”.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người bị hại, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương; hơn nữa, tác hại của ma túy đến sức khỏe của con người là rất lớn, là một trong những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh chết người HIV/AIDS và cũng là nguyên nhân làm là gia tăng các loại tội phạm hình sự khác như “Trộm cắp tài sản”, “Cướp giật tài sản”... đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an của xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, hiện có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đồng thời thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản của người bị hại với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 20.200.000đ; do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội;
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã được thu hồi trả lại cho người bị hại; do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta;
Đối với nguồn gốc ma túy, bị cáo Mạnh khai nhận là của đối tượng "T" và người nam giới không rõ lai lịch đã bán cho bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch của các đối tượng này nên đã tách ra khỏi vụ án, tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau;
Đối với ông Ngô Minh S, có hành vi nhận cầm cố chiếc xe hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát XXX1 cho bị cáo Võ Đình M, tuy nhiên quá trình điều tra đã xác định ông S hoàn toàn không biết chiếc xe có nguồn gốc do bị cáo M trộm cắp được, không liên quan đến hành vi phạm tội của M. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý;
3] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, người bị hại ông Y Q và ông Nguyễn Bảo N đã nhận lại tài sản; không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Minh S yêu cầu bị cáo Võ Đình M có trách nhiệm bồi thường số tiền 8.000.000đ tiền ông Sơn bỏ ra cầm cố tài sản; do đó cần buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Ngô Minh S số tiền 8.000.000đ là giá trị tài sản cầm cố nhưng đã tiêu xài cá nhân hết.
4] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát XXX1, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 025470 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện môtô - xe máy (đều mang tên Y N) cho ông Y Q; trả 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển kiểm soát XXX cho ông Nguyễn Bảo N nhận, quản lý, sử dụng;
Đối với 0,5321 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong gói niêm phong số 1136/KL – KTHS ngày 16/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là chất độc dược gây nghiện, Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán; 01 bộ vam phá khóa gồm 01 thanh kim loại hình trụ tròn chữ L, 02 thanh kim loại hình trụ, dài khoảng 8cm, một đầu dẹt, một đầu hình trụ lục giác là tang vật của vụ án không còn giá trị sử dụng; do đó cần tịch thu, tiêu hủy;
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh kèm sim là tài sản của bị cáo Võ Đình M không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án;
(Đặc điểm, số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột và Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột);
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Võ Đình M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Võ Đình M 02 (Hai) năm tù;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Võ Đình M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo Võ Đình M 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù;
Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự; Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 10/11/2022;
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự;
Chấp nhận việc người bị hại ông Y Q và ông Nguyễn Bảo N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm;
Buộc bị cáo Võ Đình M bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Minh S số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng);
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự;
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển kiểm soát XXX1, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 025470 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện môtô - xe máy (đều mang tên Y N) cho ông Y Q; trả 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biểm kiểm soát XXX cho ông Nguyễn Bảo N nhận, quản lý, sử dụng;
Tịch thu, tiêu hủy 0,5321 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong gói niêm phong số 1136/KL – KTHS ngày 16/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk; 01 bộ vam phá khóa gồm: 01 thanh kim loại hình trụ tròn chữ L, 02 thanh kim loại hình trụ, dài khoảng 8cm, một đầu dẹt, một đầu hình trụ lục giác;
Trả cho bị cáo Võ Đình M 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, kèm sim nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án;
(Đặc điểm, số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột và Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố B);
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Võ Đình M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1- TAND Tối cao; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP. Buôn Ma Thuột; - Công an TP. Buôn Ma Thuột; - Thi hành án dân sự TP. B; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu HS; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đỗ Thị Diễm Hương |