vanban.org

Bản án 130/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 21/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Hồng D phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Xử phạt: Trần Thị Hồng D mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Hồng D phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GIANG
-----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2023/HS-ST
Ngày: 21/7/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu In

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Liễu

Ông Nguyễn Quốc Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá,

tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Thị Hồng D; sinh ngày 09/12/1988, tại L, An Giang; nơi cư trú: số 57/7 hẻm 5, N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Trần Thị Ngọc N; chồng: Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; con có 02 người, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009; tiền sự: không có; tiền án: Ngày 14/7/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 04 tháng tù giam về tội Đánh bạc. Chấp hành án tại trại tạm giam Công an tỉnh An Giang, ngày 25/01/2015 chấp hành xong, hiện chưa xóa tiền án do đến ngày 08/3/2023 Trần Thị Hồng D mới nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; bị cáo đang tại ngoại.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bành Thị M, sinh năm 1962 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: số 69, đường S, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, nên 15 giờ 45 phút ngày 23/11/2022 Công an thành phố Rạch Giá tiến hành kiểm tra, phát hiện Trần Thị Hồng D có hành vi bán số đề tại quầy vé số Thanh ở số 74A T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Lập biên bản thu giữ tiền Việt Nam 12.300.000 đồng; 01 (một) phơi đề khổ giấy A4 màu trắng, có ghi ký hiệu chữ màu đỏ gồm: ST, CT, ĐN, A, B, XC, ghi nhiều loại số; 01 (một) máy tính cầm tay hiệu Casio, màu đen nâu, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI trên vỏ máy: 352828/29/589710/0, màu xanh, đã qua sử dụng, (bút lục số: 40-41).

Qua điều tra xác định Trần Thị Hồng D bắt đầu bán số đề tại quầy vé số Thanh số 74A T, phường V, thành phố R từ khoảng cuối năm 2021. Hàng ngày, D bán số kiến thiết và bán số đề cho nhiều người (không rõ họ tên thật và địa chỉ) thông qua bán trực tiếp khi có người đến mua hoặc bán thông qua tin nhắn trên ứng dụng mạng xã hội Zalo. Đối với bán trực tiếp thì D ghi nội dung đặt cược (gồm các con số và số tiền mua số) vào mặt sau tờ vé số kiến thiết đã xổ (gọi là lai đề) sau đó đưa lại cho người mua, nhận tiền, rồi ghi nội dung số vừa bán vào tờ giấy A4 (gọi là phơi đề) để đối chiếu khi có kết quả. Đối với bán thông qua tin nhắn trên ứng dụng mạng xã hội Zalo thì người mua nhắn tin các con số và số tiền vào ứng dụng mạng xã hội Zalo trên điện thoại cho D, sau đó chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng hoặc đến quầy trả tiền mua số cho D trước giờ xổ số.

D bán số đề với các hình thức bao gồm: Số đầu là kết quả xổ số giải tám của đài đặt cược; số đuôi là hai số cuối của giải đặc biệt của đài đặt cược; bao lô 02 con số là hai số cuối của 18 lô các giải của đài đặt cược; bao lô 03 con số là ba số cuối của 17 lô (trừ giải tám) của đài đặt cược; xỉu chủ là số tương ứng với kết quả xổ số giải bảy và ba số cuối giải đặc biệt của đài đặt cược. Đối với số đầu, số đuôi, bao lô 02 con số, người mua 1.000 đồng thắng được 80.000 đồng, đối với bao lô 03 con số, xỉu chủ, người mua 1.000 đồng thắng được 600.000 đồng; đối với người mua số đầu, số đuôi thì người mua một con số 1.000 đồng thì chỉ trả 1.000 đồng, đối với bao lô 02 con số thì người mua phải trả gấp 14,5 lần trên 18 lô; bao lô 03 con số thì người mua phải trả gấp 11,5 lần trên 17 lô (trừ giải tám), tức nếu người chơi bao lô 02 con số với số tiền 1.000 đồng thì người mua phải trả 14.500 đồng và bao lô 03 con số với số tiền 1.000 đồng thì người mua phải trả 11.500 đồng; đối với số xỉu chủ thì người chơi phải trả gấp 02 lần; Trung bình mỗi ngày D bán được từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng, quá trình bán số đề có thắng, có thua, trong quá trình bán số đề thu lợi được số tiền khoảng 18.000.000 đồng.

Như thường lệ, vào ngày 23/11/2023, D tiếp tục bán số đề cho khoảng 10 người, bán trực tiếp và qua mạng xã hội Zalo theo kết quả xổ số các đài Sóc Trăng, Cần Thơ và Đồng Nai, cụ thể: Bán số đầu các đài Sóc Trăng được 1.680.000 đồng, Cần Thơ được 1.235.000 đồng, Đồng Nai được 100.000 đồng. Bán số đuôi các đài Sóc Trăng được 60.000 đồng, Cần Thơ được 70.000 đồng, Đồng Nai được 50.000 đồng. Bán bao lô hai con số các đài Sóc Trăng được 2.972.500 đồng, Cần Thơ được 10.222.500 đồng, Đồng Nai được 3.552.500 đồng. Bán bao lô ba con số các đài Sóc Trăng được 115.000 đồng, Cần Thơ được 80.500 đồng, Đồng Nai được 46.000 đồng. Bán số xỉu chủ các đài Sóc Trăng được 90.000 đồng, Cần Thơ được 390.000 đồng, Đồng Nai được 60.000 đồng. Tổng số tiền bán số đề của D vào ngày 23/11/2022 cho các con bạc là 20.724.000 đồng, trong đó đã thu được 12.300.000 đồng (bị Công an thu giữ), số còn lại người mua chưa trả tiền và có một số người trúng số lô đề mua trước đó đến lãnh tiền.

Đối với người mua Bành Thị M sử dụng tài khoản Zalo tên “Mỹ Miều”, đăng ký bằng số điện thoại 0829969628 để nhắn tin vào tài khoản Zalo của D tên “Diem Tran” để mua số đề của D, từ trước ngày bị bắt quả tang khoảng một tháng, mua khoảng 09 (chín) lần, nhưng không có lần nào tổng số tiền mua số và tiền trúng số lên đến 5.000.000 đồng. Ngày 23/11/2022, Miều tiếp tục nhắn tin Zalo cho D để mua số đề với số tiền 1.952.000 đồng, thì D bị Công an bắt quả tang. Đối với người mua tên Kiều L (chưa rõ tên thật, địa chỉ), sử dụng tài khoản Zalo tên “KL”, ngày 23/11/2022, nhắn tin Zalo cho D để mua số đề với tổng số tiền 8.150.000 đồng (bút lục số: 42-45;53 - 69).

Đến ngày 06/3/2023, Trần Thị Hồng D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố và cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong quá trình điều tra, truy tố, bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình (bút lục số: 06, 12, 16).

Bị cáo Trần Thị Hồng D đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan

điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Thị Hồng D đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”.

* Vật chứng thu được:

- Tiền Việt Nam 12.300.000 đồng (mười hai triệu ba trăm ngàn đồng).

- 01 (một) phơi đề khổ giấy A4 màu trắng, có ghi ký hiệu chữ màu đỏ gồm: ST, CT, ĐN, A, B, XC, ghi nhiều loại số, đã đưa vào hồ sơ vụ án do liên quan đến hành phạm tội của bị cáo.

- 01 (một) máy tính cầm tay hiệu Casio, màu đen nâu, đã qua sử dụng.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI trên vỏ máy: 352828/29/589710/0, màu xanh, đã qua sử dụng, (bút lục số: 41 42).

* Theo bản cáo trạng số: 147/CT.VKSTPRG ngày 12/6/2023 của Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Trần Thị Hồng D về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên

Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1

Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Thị Hồng D mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI trên vỏ máy: 352828/29/589710/0, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền Việt Nam 12.300.000 đồng là tài sản bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và số tiền 18.000.000 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính trong quá trình bán số đề.

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) máy tính cầm tay hiệu Casio, màu đen nâu, đã qua sử dụng là vật chứng không có giá trị sử dụng bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 99, ngày 17/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

- Đưa vào hồ sơ vụ án 01 (một) phơi đề khổ giấy A4 màu trắng, có ghi ký hiệu chữ màu đỏ gồm: ST, CT, ĐN, A, B, XC, ghi nhiều loại số là vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Hồng D.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố

Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Trần Thị Hồng D

đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Trần Thị Hồng D bắt đầu bán số đề cho các con bạc trực tiếp và thông qua tin nhắn trên mạng xã hội Zalo tại quầy vé số Thanh số 74A T, phường V, thành phố R từ khoảng cuối năm 2021. D bán số đề với hình thức là số đầu, số đuôi, bao lô 02 con số, bao lô 03 con số, xỉu chủ theo kết quả xổ số kiến thiết các đài. Trung bình mỗi ngày D bán được từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng, trong quá trình bán số đề thu lợi được số tiền khoảng 18.000.000 đồng. Đến 15 giờ 45 phút ngày 23/11/2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân Công an thành phố Rạch Giá tiến hành kiểm tra, phát hiện Trần Thị Hồng D có hành vi bán số đề tại quầy vé số Thanh số 74A T, phường V, thành phố R. Thu giữ tiền Việt Nam 12.300.000 đồng; 01 phơi đề; 01 điện thoại di động dùng để bán số đề; 01 máy tính cầm tay hiệu Casio. Ngày 06/3/2023, Trần Thị Hồng D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố và cấm đi khỏi nơi cư trú.

Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo

Trần Thị Hồng D phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy, bị cáo thực hiện hành vi tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích. Bản thân bị cáo cũng nhận thức được hành vi đánh bạc là nhà nước nghiêm cấm và vi phạm pháp luật. Do không có thu nhập ổn định, muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, không những xâm phạm trật tự công cộng mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác.

Do đó, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo và cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại

phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tính tiết tăng nặng là tài phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Theo bản luận tội mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên

Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) máy tính cầm tay hiệu Casio, màu đen nâu, đã qua sử dụng là vật chứng không có giá trị sử dụng bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 108, ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

Về biện pháp tư pháp:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI trên vỏ máy: 352828/29/589710/0, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền Việt Nam 12.300.000 đồng theo giấy nộp tiền vào kho bạc Nhà nước ngày 17/3/2023.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 108, ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Tiền Việt Nam 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) theo biên lai thu

tiền số 0007499 ngày 19/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Về các vấn đề khác: Đối với bà Bành Thị M có hành vi đánh bạc, nhưng số tiền dùng để đánh bạc chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự, ngoài ra cũng không có tiền án, tiền sự gì nên không xử lý hình sự. Cơ quan điều tra sẽ chuyển hồ sơ về địa phương để xử phạt hành chính theo thẩm quyền. Đối với người tên Kiều L có hành vi đánh bạc, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá tiếp tục điều tra, làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Trần Thị Hồng D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo

quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Hồng D phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1

Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Thị Hồng D mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) máy tính cầm tay hiệu Casio, màu đen nâu, đã qua sử dụng.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 108, ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

Về biện pháp tư pháp:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI trên vỏ máy: 352828/29/589710/0, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền Việt Nam 12.300.000 đồng theo giấy nộp tiền vào kho bạc Nhà nước ngày 17/3/2023.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 108, ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Tiền Việt Nam 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) theo biên lai thu

tiền số 0007499 ngày 19/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thị Hồng D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án

phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/7/2023). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. * Nơi nhận:

Cỡ chữ