vanban.org

Bản án 130/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 15/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 14-6-2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2023/HS-ST
Ngày 15-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Đăng Chương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Liên;

Bà Nguyễn Thanh Trâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phát – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

TRẦN NGỌC T, sinh năm: 2001 tại Lâm Đồng.

Nơi cư trú: Tổ dân phố 13, hẻm 31, đường 3/4, phường T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã L, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc H, sinh năm: 1977 và bà Nguyễn Thị T sinh năm: 1978; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang- Tháp Chàm; (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 14/6/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an TP. Phan Rang - Tháp Chàm phối hợp với Công an phường K tuần tra kiểm soát, phòng chống tội phạm trên địa bàn phường K. Khi đến đoạn đường T, thuộc khu phố 2, phường K thì nhìn thấy Trần Ngọc T đang điều khiển xe mô tô, hiệu Air Blade JF633, màu đỏ đen, biển số: 49B2-124.93, số máy: JF94E0485906, số khung: RLHJF6338NZ133524 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra thì phát hiện bên trong chiếc giày bên phải của T có 01 bịch nylon được hàn kín các đầu, chứa chất tinh thể màu trắng (Nghi ma túy - Ký hiệu M). Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ của T: 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 11, màu đỏ; 01 đôi giày, màu đen.

Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 14/6/2023, Trần Ngọc T gọi điện thoại cho một người tên Th (Chưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 01 bịch ma túy, với số tiền 300.000 đồng thì Th đồng ý bán, hẹn đến đường H gần đèn xanh đỏ ngã tư cầu An Đông, thuộc phường Mỹ Đông để giao nhận ma túy. T điều khiển xe mô tô, hiệu Air Blade JF633, màu đỏ đen, biển số: 49B2-124.93, số máy: JF94E0485906, số khung: RLHJF6338NZ133524 chạy đến điểm hẹn. Tại đây, Th đã bán cho T 01 bịch ma túy đá, với số tiền 300.000 đồng, sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào bên trong chiếc giày bên phải. Khi T điều khiển xe mô tô chạy đến đoạn đường T, thuộc khu phố 2, phường K, TP. Phan Rang - Tháp Chàm thì bị lực lượng Công an bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại Kết luận giám định số: 138/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận: Chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định ký hiệu M là: 0,3011g.

Hoàn trả đối tượng sau giám định: Khối lượng mẫu vật còn lại sau giám định là M: 0,2204g, cùng với toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định.

* Vật chứng của vụ án:

- 01 gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 0,2204 gam ma túy, loại Methamphetamine, cùng với toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

- 01 đôi giày, màu đen;

- 01 xe mô tô, hiệu Air Blade JF633, màu đỏ đen, biển số: 49B2-124.93, số máy: JF94E0485906, số khung: RLHJF6338NZ133524 và 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 11, màu đỏ.

Đối với một người tên Th đã bán ma túy cho Trần Ngọc T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Bản cáo trạng số: 137/CT-VKSPRTC, ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Ngọc T mức án từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình xin Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang

- Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định:

Khoảng 12 giờ ngày 14/6/2023, Trần Ngọc T đã thực hiện hành vi tàng trữ 0,3011g ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu phố 2, phường K, TP. Phan Rang - Tháp Chàm. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của chất ma túy và hình phạt liên quan đến các tội phạm về ma túy là rất nghiêm khắc nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội mà còn làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhất là hiện nay tệ nạn ma túy ở địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm đã đến mức báo động. Ma túy thật sự trở thành hiểm họa đe dọa đến sức khỏe, cuộc sống bình yên, gây bao đau thương tang tóc cho nhiều gia đình.

Để giữ nghiêm kỷ cương của pháp luật, nhằm thiết lập lại tình hình trị an tại địa phương, thiết nghĩ cần có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như thế mới có tác dụng giáo dục cải tạo, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét, cân nhắc cho bị cáo khi lượng hình.

Đối với một người tên Th đã bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 0,2204 gam ma túy, loại Methamphetamine, cùng với toàn bộ bao gói gửi đến giám định, là mẫu vật còn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 đôi giày, màu đen là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe mô tô, hiệu Air Blade JF633, màu đỏ đen, biển số: 49B2-124.93, số máy: JF94E0485906, số khung: RLHJF6338NZ133524 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đỏ. Đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân đề nghị tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước là có căn cứ.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo, xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị mức án là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 14-6-2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01(một) gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 0,2204 gam ma túy loại Methamphetamine, cùng với toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Bên ngoài có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, có chữ ký và ghi tên Lê Ngọc Thư, Lê Đình Lượng, Đinh Quang Tuân, Đỗ Hoàng Tú; 01 (một) đôi giày màu đen đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đỏ đã qua sử dụng;

+ 01 (một) xe mô tô, hiệu Air Blade JF633, màu đỏ đen, biển số: 49B2-124.93 đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng hồi 10 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 10 năm 2023 tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Ngọc T phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/9/2023)./.

Cỡ chữ