- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trọng C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN _________ Bản án số: 130/2023/HS - ST Ngày 20 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Tám
Bà Lò Thị Vinh
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thuý Dần - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Trọng C. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1983
Tại: Điện Biên
Nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lê Trọng M (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị S: Vợ: Nguyễn Thanh H (đã ly hôn) con: có 01 người con sinh năm 2013; Tiền án; tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án. Ngày 15/10/2004 Công an phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng; ngày 31/3/2016, bị Trưởng Công an huyện Điện Biên Đông Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thủ tục không lập biên bản về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác; ngày 20/4/2016 bị Trưởng Công an huyện Điện Biên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác. Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 11/3/2023 đến ngày xét xử. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/3/2023, Lê Trọng C đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực đầu bờ ruộng thuộc thôn 4, xã Pom Lót, huyện Điện Biên, Cường gặp và mua được của một người đàn ông (Cường không biết tên và địa chỉ) 01 gói Methamphetamine với giá 1.100.000 đồng. Mua xong Cường cất ma túy vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Hồi 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi Cường đang đi ở đường thuộc thôn 4, xã Pom Lót, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và ma túy Công an huyện Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi áo khoác bên trái Cường đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa các viên Methamphetamine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 11/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên và bản Kết luận giám định số 483/KL - KTHS ngày 19/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lê Trọng C là 11,87 gam. Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Lê Trọng C gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 84/CT-VKSĐB ngày 18/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Lê Trọng C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trọng C từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 11,87 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 9,63 gam sau khi giám định). Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 11/3/2023, tại khu vực thôn 4, xã Pom Lót, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và ma túy Công an huyện Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi áo khoác bên trái của bị cáo Lê Trọng C đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa các viên nén màu hồng nghi Methamphetamine. Qua cân xác định khối lượng và Kết luận giám định đã xác định, vật chứng thu giữ của bị cáo Cường là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 11,87 gam. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nguồn gốc số Methamphetamine bị thu giữ là do bị cáo mua của một người đàn ông (bị cáo không biết tên và địa chỉ) mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Mục đích của bị cáo tàng trữ 11,87 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đơn giản, chỉ do nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích nào khác. Tuy nhiên, hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn trong xã hội.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên, ngày 15/10/2004 Công an phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng; ngày 31/3/2016, bị Trưởng Công an huyện Điện Biên Đông Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thủ tục không lập biên bản về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác; ngày 20/4/2016 bị Trưởng Công an huyện Điện Biên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định xử phạt vi phạm hành chính và hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý phi phạm hành chính nên bị cáo được coi là chưa bị phạt vi phạm hành chính. Ngày 30/6/2010, bị cáo được kết nạp vào đảng viên Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, sinh hoạt tại Chi bộ Chi cục Thuế huyện Điện Biên thuộc Đảng ủy Cục Thuế tỉnh Điện Biên. Ngày 14/3/2023, bị cáo bị xóa tên trong danh sách đảng viên theo Quyết định số 330-QĐ/ĐUK của Đảng ủy khối cơ quan Doanh nghiệp tỉnh Điện Biên.
Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bố đẻ bị cáo là ông Lê Trọng Mạnh được Chủ Tịch Nước tặng Huy chương kháng chiến chống mỹ hạng nhì, đã được giải quyết chế độ đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế (BL60); bị cáo đã ly hôn từ năm 2015 và một mình nuôi con nhỏ, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "người phạm tội thành khẩn khai báo" và tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát để nghị áp dụng mức hình phạt tù từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bản thân không có thu nhập nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vật chứng: Gồm 11,87 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 9,63 gam sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của một người đàn ông bị cáo không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được. Vì vậy HĐXX không xem xé
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Trọng C 05 (Năm) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 11/3/2023).
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS
- Tịch thu tiêu huỷ 11,87 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 9,63 gam sau khi giám định)
Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 18/5/2023.
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/6/2023).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Điện Biên; - Bộ phận HSNV CA H.Điện Biên; - Công an huyện Điện Biên; - Ủy ban kiểm tra Huyện ủy ĐB; - Đảng ủy khối cơ quan doanh nghiệp tỉnh ĐB; - Nhà tạm giữ; - Bị cáo; - Chi cục T.H.A Dân sự H. Điện Biên; - Sở Tư pháp; - T.H.A HS; Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Thùy Dương |