- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh Q và chị T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Q và chị T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07/7/2023 V/v: “Ly hôn giữa anh Q và chị T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Luân
2. Bà Lê Thị Minh Thắm
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng – Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2023/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2023/QĐXX - DS ngày 08 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Q, sinh năm 1982; Địa chỉ: 98/1 ấp A, xã P, thành phố T, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Chị T, sinh năm 1985; Địa chỉ: 98/1 ấp A, xã P, thành phố T, tỉnh Tiền Giang.
Anh Q, chị T vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 05 tháng 01 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Q trình bày:
- Về hôn nhân: anh và chị T cưới nhau vào năm 2005 và có đăng ký kết hôn vào năm 2005. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T không lo làm ăn mà tham gia cờ bạc, gây nợ nhiều, anh đã nhiều lần yêu cầu chị T sửa đổi nhưng chị T vẫn cố chấp và không sửa đổi bản thân, từ đó vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Anh và chị T đã ly thân từ năm 2010 đến nay. Nay anh thấy vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị T.
- Về con chung: Có hai con chung tên Trần Thanh Tuấn, sinh ngày 28/01/2006 và Trần Thanh Sơn, sinh ngày 01/3/2008. Hiện cháu Tuấn đang sống với chị T, cháu Sơn đang sống chung với anh. Khi ly hôn anh để chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tuấn, anh trực tiếp nuôi cháu Sơn
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T biết để tham gia phiên tòa theo quy định nhưng chị T vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản phản hồi về việc anh Q khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt, chị T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Anh Q có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với chị T nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị T có nơi cư trú tại xã P, thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Anh Q và chị T cưới nhau vào năm 2005, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố Mỹ Tho vào năm 2005 là phù hợp với Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn anh Q khai là do chị T không lo làm ăn mà tham gia cờ bạc, gây nợ nhiều, anh đã nhiều lần yêu cầu chị T sửa đổi nhưng chị T vẫn cố chấp và không sửa đổi bản thân, từ đó vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2010 đến nay.
Xét thấy chị T đã được Tòa án triêu tập đến để hòa giải đoàn tụ nhưng chị vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy phía chị T không có thiện chí nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, thời gian sống ly thân giữa anh Q và chị T đã kéo dài mà không giải quyết được mâu thuẫn. Hội đồng xét xử xét thấy đời sống hôn nhân giữa anh Q và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của anh Q, cho anh Q ly hôn với chị T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có hai con chung tên Trần Thanh Tuấn, sinh ngày 28/01/2006 và Trần Thanh Sơn, sinh ngày 01/3/2008. Khi ly hôn anh Q giao cho chị T trực tiếp nuôi cháu Tuấn, anh trực tiếp nuôi cháu Sơn.
Xét thấy do hiện cháu Tuấn cũng đang sống trực tiếp với chị T, cháu Sơn đang sống trực tiếp với anh Q nên để tránh xáo trộn trong cuộc sống của các cháu ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung cũng như từ nguyện vọng của các cháu, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của anh Q, giao cháu Tuấn cho chị T trực tiếp nuôi, giao cháu Sơn cho anh Q trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Q, chị T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Q và chị T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Q tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Q và chị T.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Trần Thanh Tuấn, sinh ngày 28/01/2006 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung tên Trần Thanh Sơn, sinh ngày 01/3/2008 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Q, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Q phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 23245 ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - VKSND TP Mỹ Tho; - Các đương sự; - UBND phường 3, TP. Mỹ Tho; - Chi Cục THADS TP Mỹ Tho; - Lưu. | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Vĩnh Lộc |