vanban.org

Bản án 130/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 26/06/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Kim A;

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Kim A được ly hôn với anh Trần Văn E. Về con chung và tài sản chung: Chị Hà Thị Kim A, anh Trần Văn E không có con chung và tài sản chung nên không đặt ra vấn đề giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hà Thị Kim A - Anh Trần Văn E"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Kim A;
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26-6-2023
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Minh Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Đỗ Xuân Quyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Kim A, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện D, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Anh Trần Văn E, sinh năm 1996; nơi ĐKHKTT: Thôn G, xã H, huyện I, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Nhật Bản.

Cùng vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 23 tháng 5 năm 2023 và các văn bản khác, nguyên đơn là chị Hà Thị Kim A trình bày:

Chị A và anh Trần Văn E kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại thành phố O, tỉnh P, Nhật Bản theo Giấy chứng nhận kết hôn cấp ngày 02/9/2021; đã ghi chú kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện D. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận một thời gian rồi phát sinh mâu thuẫn từ tháng 4/2022 (sau khi chị A về Việt Nam), do bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Tháng 01/2023, anh E trở về Việt Nam khoảng một tháng thì quay trở lại Nhật Bản sinh sống, làm việc và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Mặc dù hai anh chị đã cố gắng tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành nên chị A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh E.

Về con chung: Chị A trình bày quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản gửi Toà án có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản, anh Trần Văn E thống nhất với lời trình bày của chị A về đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn đồng thời trình bày thêm:

Sau khi anh E quay trở lại Nhật Bản thì vợ chồng sống ly thân đến nay, anh E xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với chị A.

Về con chung và tài sản chung: Anh E thống nhất với lời trình bày của chị A là quá trình chung sống không có con chung và tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do không có mặt ở Việt Nam, anh E đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt và ủy quyền cho anh Nguyễn Chí K (địa chỉ: Tầng 4, số 32 phố L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội) nhận các văn bản tố tụng, bản án của Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn giữa bên nguyên đơn là người Việt Nam đang cư trú tại Hải Phòng và bị đơn là người Việt Nam đang cư trú tại Nhật Bản. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Do điều kiện ở xa và do bận công việc, không thể có mặt trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án, chị A và anh E có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ. Đề nghị của chị A và anh E phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về nội dung yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh E kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại thành phố O, tỉnh P, Nhật Bản theo Giấy chứng nhận kết hôn cấp ngày 02/9/2021; đã ghi chú kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện D nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai anh chị cùng chung sống tại Nhật Bản, vợ chồng không có mâu thuẫn. Từ tháng 4/2022, hai anh chị mới phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng có bất đồng trong quan điểm và phong cách sống dẫn đến thường xuyên tranh cãi. Mặc dù hai bên đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không tìm được tiếng nói chung. Nay anh chị cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét vợ chồng cùng xác nhận có mâu thuẫn, họ không còn quan tâm đến nhau nên mâu thuẫn giữa họ là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; việc họ xin ly hôn là tự nguyện, phù hợp với tình trạng mối quan hệ giữa họ. Căn cứ Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị A và anh E ly hôn.

Về con chung và tài sản chung: Chị A và anh E xác nhận không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Kim A;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Kim A được ly hôn với anh Trần Văn E.

2. Về con chung và tài sản chung: Chị Hà Thị Kim A, anh Trần Văn E không có con chung và tài sản chung nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Hà Thị Kim A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000510 ngày 25/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Hà Thị Kim A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thị Kim A có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày; anh Trần Văn E có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng; kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ