- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "T/c hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính S.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2023/DS – ST Ngày: 09/5/2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Đức Quang
2. Bà Đỗ Thị A
Thư ký Tòa án: Bà Trà Thị Thúy Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2022/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2023 giữa:
Nguyên đơn : Công ty tài chính S
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A, Tòa nhà A1, số A2 A3, Phường A4, Quận
A5, Thành phố M.
Người đại diện theo pháp luật : Ông Lô Bằng G – Chức vụ : Chủ tịch Hội
đồng thành viên
Người đại diện theo ủy quyền : Ông Đoàn Anh T – Sinh năm 1994
Địa chỉ : Tầng B, Tòa nhà A1, số A2 A3, Phường A4, Quận A5, Thành phố
M (xin vắng mặt)
Bị đơn : Ông Tôn Ngọc Vân S1, sinh năm: 1962
Địa chỉ: 128A/35 C, Phường C1, Quận C2, Thành phố M (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 31/8/2022 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn là ông Đoàn Anh T trình bày: Ngày 14/03/2019, ông Tôn Ngọc Vân S1 có ký hợp đồng tín dụng số 20190315-0001146 với Công ty tài chính S (nay là Công ty S – Sau đây gọi tắt là Công ty) vay số tiền 31.650.000 đồng (Ba mươi mốt triệu, sáu trăm năm mươi ngàn đồng chẵn) với lãi suất thoả thuận 2.50%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Tôn Ngọc Vân S1 có trách nhiệm thanh toán số tiền 42.468.380 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.770.000, tháng cuối cùng 1.758.380 đồng; Bắt đầu từ ngày 15/04/2019. Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính S tổng số tiền 23.308.000 đồng, bao gồm 14.818.707 đồng tiền gốc và 8.489.293 đồng tiền lãi. Kể từ ngày 20/04/2020 đến nay, ông Tôn Ngọc Vân S1 không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Do khách hàng trễ hạn thanh toán nên Công ty tài chính S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Tôn Ngọc Vân S1 thanh lý hợp đồng trả một lần cho công ty toàn bộ số tiền nợ bao gồm các khoản sau:
- Trả toàn bộ khoản nợ gốc: 16.831.293 đồng
- Trả toàn bộ khoản nợ lãi: 2.329.087 đồng Tổng số tiền Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Tôn Ngọc Vân S1 phải thanh toán là: 19.160.380 đồng (Mười chín triệu, một trăm sáu mươi ngàn, ba trăm tám mươi đồng chẵn). Công ty không yêu cầu ông Tôn Ngọc Vân S1 phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày khởi kiện cho tới ngày xét xử. Kể từ sau ngày xét xử, yêu cầu ông S1 tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. * Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ bị đơn là ông Tôn Ngọc Vân S1 đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt, đồng thời nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải; Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn và không tiến hành hòa giải được. * Tại phiên tòa: Chủ tọa phiên tòa công bố: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận C2 phát biểu:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Công ty tài chính S, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại Quận C2, Thành phố M nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận C2 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
Xét thấy, Hợp đồng tín dụng số 20190315-0001146 ngày 14/03/2019 được ký kết giữa Công ty với ông Tôn Ngọc Vân S2 là hợp đồng vay tín chấp. Ông S2 vay số tiền 31.650.000 đồng của Công ty để tiêu dùng cá nhân và có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền 42.468.380 đồng (gồm gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.770.000, tháng cuối cùng 1.758.380 đồng; Bắt đầu từ ngày 15/04/2019.
Sau khi ký kết hợp đồng, ông S1 đã nhận đủ số tiền vay nhưng không thực hiện đúng cam kết thanh toán cho Công ty, mặc dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở, yêu cầu thanh toán nợ và cũng quá thời hạn trả nợ được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nên Công ty được quyền khởi kiện đối với ông T1 để thu hồi nợ. [3.2] Xét yêu cầu về tiền gốc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc còn lại là 16.831.293 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy ông S2 vay 31.650.000 đồng của Công ty và đã thanh toán được số tiền gốc là 14.818.707 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông S1 phải trả cho Công ty số nợ gốc còn lại là 16.831.293 đồng. [3.3] Xét yêu cầu về tiền lãi: Căn cứ Hợp đồng tín dụng 20190315-0001146 ngày 14/03/2019, Công ty thỏa thuận với ông S1 về mức lãi suất vay là 2,5%/tháng. Xét thấy, mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là ông Tôn Ngọc Vân S2 có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền lãi còn thiếu là 2.329.087 đồng. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Tôn Ngọc Vân S2 phải có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính S số tiền tổng cộng là 19.160.380 đồng. [4] - Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty về việc không yêu cầu ông Tôn Ngọc Vân S1 phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày khởi kiện cho tới ngày xét xử.
- Về lãi suất trong giai đoạn thi hành án: Công ty yêu cầu kể từ sau ngày xét xử, yêu cầu ông S2 tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 (thấp hơn lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng) nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của Công ty về việc này. [5] Về án phí: Ông Tôn Ngọc Vân S2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền phải trả cho Công ty là 958.020 đồng. Trả lại cho Công ty tài chính S số tiền tạm ứng án phí đã nộp. [5] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận C2 tại phiên tòa là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự ;
- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính S.
1.1. Ông Tôn Ngọc Vân S2 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty tài chính S số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 20190315-0001146 ngày 14/03/2019 là 19.160.380 đồng (mười chín triệu một trăm sáu mươi ngàn ba trăm tám mươi đồng), trong đó nợ gốc là 16.831.293 đồng và lãi là 2.329.087 đồng.
1.2. Việc thanh toán tiền được thực hiện một lần tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Công ty tài chính S có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nói trên, hàng tháng ông Tôn Ngọc Vân S2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 958.020 đồng (chín trăm năm mươi tám ngàn không trăm hai mươi đồng) do ông Tôn Ngọc Vân S1 chịu. Hoàn lại cho Công ty tài chính S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 479.010 đồng (bốn trăm bảy mươi chín ngàn không trăm mười đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0018999 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận C2, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Công ty tài chính S, ông Tôn Ngọc Vân S1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TANDTP -VKSNDTP; - VSKND Quận 10; - Chi cục THA Dân sự Quận 10; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Anh |