- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2022/HSST Ngày: 14 - 7- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Châu Thị Lệ
2. Ông Nguyễn Văn Soan
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 117/2022/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Hồ Văn H; giới tính: Nam, sinh năm 1978 tại tỉnh T; Hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã H, huyện N, tỉnh Q; nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện LN, tỉnh B; Nghề nghiệp: thợ xây dựng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 05/12; Con ông Hồ Văn M (sinh năm 1952) và bà Lê Thị B (sinh năm 1952); Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên Phạm Thị H, sinh năm 1983 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự : không; Nhân thân: Ngày 26/08/1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh B tuyên xử 01 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản công dân” và 04 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 05 năm. Chấp hành án tại trại giam A, tỉnh BD. Đến ngày 30/04/2000 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 10/06/2002, Tòa án nhân dân tỉnh B tuyên xử 9 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành án tại trại giam A, tỉnh BD. Đến ngày 12/06/2010, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 03/4/2022 (Có mặt).
Bị hại :
- Anh Lê Thanh P, sinh năm 1982; trú tại: Xóm G, xã Q, huyện QL, tỉnh N (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Minh S – Chủ cửa hàng Cầm đồ T; Địa chỉ: đường H, Phường TL, Quận A, Tp. H (vắng mặt)
- Anh Hồ Văn M, sinh năm 1952; Trú tại: Ấp T, xã L, huyện LN, tỉnh B (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Văn H và Lê Thanh P, sinh năm: 1982, HKTT: Xóm G, xã Q, huyện QL, tỉnh N cùng làm chung thợ xây tại công trình xây dựng thuộc khu C, địa chỉ: T đường P, Phường K, quận G. Khoảng 15h30 ngày 18/6/2016 tại Công trình C, địa chỉ T đường P, Phường K, quận G, Hồ Văn H mượn xe máy Yamaha Sirius màu đỏ - đen biển số 37L2-008.21 của anh P để đi mua đồ thì anh P đồng ý. Sau khi mua đồ xong, H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe và mở cốp xe thấy có giấy đăng ký, chứng minh nhân dân và bằng lái xe của P nên Hồ Văn H đem đi cầm tại tiệm Cầm đồ T, địa chỉ: C Khu phố E, Phường TL, Quận A, TP. H với giá 14.000.000 đồng. Đến 19h cùng ngày, không thấy H quay về trả xe nên anh P qua nhà trọ của H tại địa chỉ: 497/6 P, Phường K, quận G tìm thì chủ nhà trọ cho biết H và gia đình đã dọn đi vài ngày trước. Chủ nhà trọ có cho anh P số điện thoại của H và vợ H nhưng không liên lạc được. Anh P đến trình báo sự việc tại Công an Phường 5, quận G. Ngày 21/7/2016, Đoàn Tuấn L, sinh năm: 1994, HKTT: B Khu phố N, Phường TL, Quận A là nhân viên của tiệm cầm đồ tìm trong cốp xe có số điện thoại nên gọi điện cho anh P đến đóng lãi. Anh P báo cho Công an Phường 5 đến tiệm cầm đồ trên thu hồi vật chứng.
Vật chứng vụ án:
01 xe gắn máy Yamaha Sirius đỏ- đen, biển số 37L2-008.21, số khung: RLCUE10FY022490, số máy: E3T6E-030440. Tại kết luận định giá số 159/KL ngày 9/8/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND quận Gò Vấp kết luận: xe máy Yamaha Sirius, số khung RLCUE1710Y-022490, số máy E3T6E-030440 do Công ty Yamaha Việt Nam sản xuất, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 20/06/2016 là 20.000.000 đồng. Qua xác minh chiếc xe trên do anh Lê Thanh P đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe cho anh P.
Ngày 29/4/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố bị can số 394/QĐ và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Hồ Văn H về tội “Lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản” để điều tra. Nhưng Hồ Văn H đã không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với Hồ Văn H.
Do thời hạn điều tra đã hết, Cơ quan điều tra ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án và tạm đình chỉ điều tra bị can. Đến ngày 03/04/2022, Hồ Văn H đến Công an xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đầu thú. Công an xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tiếp nhận hồ sơ và chuyển giao cho Cơ quan CSĐT Công an quận Gò Vấp thụ lý theo thẩm quyền.
Đối với cửa hàng cầm đồ T địa chỉ: C Khu phố E, đường Hà Huy Giáp, Phường TL, Quận A do ông Phạm Minh S làm chủ. Anh Đoàn Tấn L là quản lý tiệm cầm đồ khai nhận khi đến cầm xe Hồ Văn H đưa giấy tờ xe và chứng minh nhân dân tên Lê Thanh P do nhìn người giống với chứng minh nhân dân nên anh L đồng ý cầm xe với giá 14.000.000 đồng. Anh L không biết xe trên do H phạm tội mà có.
Về trách nhiệm dân sự: ông Hồ Văn M là cha của Hồ Văn H đã bồi thường cho anh Phạm Minh S (chủ cửa hàng cầm đồ T) số tiền 14.000.000 đồng (ông M cho H luôn số tiền trên), anh S đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 118/Ctr-VKS, ngày 09/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Hồ Văn H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hồ Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khỏan 1 Điều 175, điểm b, s khỏan 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Hồ Văn H mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 20.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Hồ Văn H đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng quen biết và sự tin tưởng của người bị hại, bị cáo cố ý mượn chiếc xe máy của anh P. Bị cáo đã lợi dụng lòng tin của anh P để thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra, khi anh P giao xe cho bị cáo một cách hợp pháp thì bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của người bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt về hành vi trái pháp luật. Tuy đã xóa án nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên cần thiết phải xử lý nghiêm, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, sau khi xảy ra sự việc gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả, bản thân bị cáo sau khi biết bị truy nã bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú nên Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với cửa hàng cầm đồ T địa chỉ: C Khu phố E, đường H, Phường TL, Quận A do ông Phạm Minh S làm chủ. Anh Đoàn Tấn L là quản lý tiệm cầm đồ khai nhận khi đến cầm xe, bị cáo đã đưa giấy tờ xe và chứng minh nhân dân tên Lê Thanh P. Do nhìn người giống với chứng minh nhân dân nên anh L đồng ý cầm xe với giá 14.000.000 đồng. Anh L không biết chiếc xe trên do bị cáo phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với ông Đoàn Tấn L là có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa, bị hại anh Lê Thanh P vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện anh P đã được nhận lại chiếc xe bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền 14.000.000 đồng bị cáo cầm xe cho Cửa hàng cầm đồ T, bị cáo đã tiều xài hết. Sau khi xảy ra sự việc, cửa hàng T đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe để trả cho bị hại, ông Phạm Minh S – chủ cửa hàng T có yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền bị cáo đã nhận. Ông Hồ Văn M là cha ruột của bị cáo đã bồi thường cho anh Phạm Minh S - chủ cửa hàng cầm đồ T số tiền 14.000.000 đồng, ông M xác định cho bị cáo luôn số tiền trên không yêu cầu bị cáo trả lại, anh S đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. .
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe gắn máy Yamaha Sirius đỏ - đen, biển số 37L2-008.21, số khung: RLCUE10FY022490, số máy: E3T6E-030440. Qua xác minh chiếc xe trên do anh Lê Thanh P đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe cho anh P. Xét, việc trả lại tài sản trên là hợp lệ nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét giải quyết lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Hồ Văn H 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2022
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - Chi cục thi hành án quận Gò Vấp; - Công an quận Gò Vấp; - Viện kiểm sát quận Gò Vấp; - Người tham gia tố tụng; - Bị cáo; - PC27 công an TPHCM; - THA hình sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hương |