- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn để xét xử bị can Nguyễn Văn Q (có lý lịch nêu trên) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------- Bản án số: 130/2022/HSST Ngày: 09/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Bích Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Tuyên
2. Ông Nguyễn Văn Vĩ
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Đào Xuân Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2022/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN Q, sinh năm 1974
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện X, Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quang T (đã chết), con bà Trần Thị T; Vợ: Nại Thị P (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2002.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: có 01 tiền án đã được xoá: Tại Bản án số 17/2011/HSST ngày 04/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 25/04/2022 đến nay.
Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Trần Thị H, sinh 1981
Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Khoảng 15h20 phút ngày 25/4/2022, tại N, xã G, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, tổ công tác Y13/141 - Công an thành phố Hà Nội phát hiện 01 xe máy kiểu dáng Honda BKS: 88G1 -023.93 do người nam giới áo đen điều khiển có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra người nam giới khai tên là Nguyễn Văn Q, sinh 1974, trú tại thôn A, xã X, tỉnh Vĩnh Phúc và Q. tự giác giao nộp 02 túi nilon bên trong chứa chất bột màu trắng, khai là ma túy Heroine. Tổ Công tác đã tiến hành niêm phong tang vật và đưa Q. về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra làm rõ được: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 25/4/2022, Nguyễn Văn Q. điều khiển xe máy BKS: 88G1-023.93 từ nhà đến khu vực huyện Y, tỉnh Thái Nguyên tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Q. gặp một người nam giới không quen biết đứng ở rìa đường đặt vấn đề mua 800.000 đồng ma túy “Heroine”. Người này đồng ý, nhận tiền và đưa lại cho Q. 02 túi nilon chứa ma túy. Q. nhận ma túy rồi cho vào túi quần phía trước bên trái và điều khiển xe máy đi về. Khi về đến khu vực phố N, xã G, huyện Sóc Sơn, Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện tạm giữ người cùng tang vật.
Tại Bản kết luận giám định số 2759/KLGĐ-PC09 ngày 02/05/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột trắng trong 02 túi nilon tạm giữ của Nguyễn Văn Q. đều là ma túy Heroine, tổng khối lượng 0,682 gam.
Đối với người nam giới bán ma túy cho Q, do Q. không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Sóc Sơn không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 88G1-02393 xác định là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị H, sinh 1981, trú tại thôn Đ, xã P, huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc (là em dâu của Q), Chị H không biết việc Q. sử dụng xe máy để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe máy BKS: 88G1-02393 cho chị H.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Q. thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
[2]. Tại bản cáo trạng số 124/CT - VKS ngày 13/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố Nguyễn Văn Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận Nguyễn Văn Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Xử phạt Nguyễn Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma tuý loại Heroin có chữ ký của Nguyễn Văn Q và Giám định Viên.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[3]. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không kêu oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho mình một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 25/4/2022, tại phu vực N, xã G, Sóc Sơn, Hà Nội, Nguyễn Văn Q đã có hành vi Tàng trữ 02 túi nilon ma tuý loại Heroine, khối lượng 0,682 gram, sau đó đã bị kiểm tra, thu giữ.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định:
“Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, hướng thần có tác hại rất lớn đối với con người và đời sống cộng đồng, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS, làm suy thoái nền tảng đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Bị cáo là người đã trưởng thành, đã có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, biết rõ tác hại của các chất ma túy đối với con người cũng như đời sống cộng đồng, nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm và áp dụng hình phạt nghiêm khắc để xử phạt nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Vì vậy đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo có 01 tiền án: Tại Bản án số 17/2011/HSST ngày 04/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Mặc dù tiền án này của bị cáo đã được xoá nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực thị xã Y, Thái Nguyên, do bị cáo khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 88G1-02393 do bị cáo mượn của chị Trần Thị H, sinh 1981, trú tại thôn Đ, xã P, huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc, là tài sản hợp pháp của chị H khi mượn để sử dụng Q không nói cho chị H biết và chị H không biết Q sử dụng đi mua ma tuý, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe máy BKS: 88G1-02393 cho chị H là phù hợp.
. Xử lý vật chứng:
- 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa Heroin (thu giữ của bị cáo) cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Điều tra, Công an huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt: Nguyễn Văn Q 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2022.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma tuý Heroin thu giữ của bị cáo, theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 03/8/2022 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của mình. Nơi nhận:
T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm
- Bị cáo;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND huyện Sóc Sơn;
- Công an huyện Sóc Sơn;
- THADS huyện Sóc Sơn;
- Đương sự;
- Lưu HS, VP.
Trần Thị Bích Nguyệt
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Bích Nguyệt
Mẫu số 144/HS
Theo QĐ số 15/QĐ-VKSTC VIỆN KIỂM SÁT ND TP HÀ NỘI
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMngày 09/01/2018 VIỆN KSND HUYỆN SÓC SƠN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /CT-VKS
Sóc Sơn, ngày 13 tháng 7 năm 2022
CÁO TRẠNG
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN
- Căn cứ các Điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 179 ngày 27 tháng 04 năm 2022 của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Quyết định khởi tố bị can số 294 ngày 27 tháng 04 năm 2022 của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn đối với Nguyễn Văn Q, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Bản kết luận điều tra số 125 ngày 30 tháng 6 năm 2022 của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn.
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Khoảng 15h20 phút ngày 25/4/2022, tại N, xã G, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội, Tổ công tác Y13/141 – Công an TP Hà Nội phát hiện 01 xe máy kiểu dáng Honda BKS: 88G1 -023.93 do người nam giới áo đen điều khiển có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra người nam giới khai tên là Nguyễn Văn Q, sinh 1974, trú tại thôn A, xã X, tỉnh Vĩnh Phúc và Q tự giác giao nộp 02 túi nilon bên trong chứa bột màu trắng, khai là ma túy Heroine. Tổ Công tác đã tiến hành niêm phong tang vật chứng và đưa Q về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra làm rõ được: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 25/4/2022, Nguyễn Văn Q điều khiển xe máy BKS: 88G1-023.93 từ nhà đến khu vực huyện Y, tỉnh Thái Nguyên tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Q gặp một người nam giới không quen biết đứng ở rìa đường đặt vấn đề mua 800.000 đồng ma túy “Heroine”. Người này đồng ý, nhận tiền và đưa lại cho Q 02 túi nilon chứa ma túy. Q nhận ma túy rồi cho vào túi quần trước bên trái và điều khiển xe máy đi về. Khi về đến khu vực phố N, xã G, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện tạm giữ người cùng tang vật.
Tại Bản kết luận giám định số 2759/KLGĐ-PC09 ngày 02/05/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: Chất bột trắng trong 02 túi nilon tạm giữ của Nguyễn Văn Q đều là ma túy Heroine, tổng khối lượng 0,682 gam.
Đối với người nam giới bán ma túy cho Q, do Q không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT
- Công an huyện Sóc Sơn không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 88G1-02393 xác định là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị H, sinh 1981, trú tại Đ, xã P, huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc (là em dâu của bị can Q), Chị H không biết việc Q sử dụng xe máy để đi mua ma túy nên Cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe máy BKS: 88G1-02393 cho chị H.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình, phù hợp với biên bản kiểm tra, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở:
KẾT LUẬN
Khoảng 15 giờ 20 ngày 25/4/2022, tại khu vực N, xã G, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. Nguyễn Văn Q có hành vi Tàng trữ 0,682 gam ma túy loại heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Như vậy có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:
Họ và tên: Nguyễn Văn Q
Giới tính: Nam
Sinh ngày ... tháng ... năm 1974
Nơi sinh: Huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc.
Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc.
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 7/12
Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1943 (đã chết)
Con bà: Trần Thị T, sinh năm: 1948
Anh, chị, em ruột: Gia đình có 04 anh em, bị can là con thứ hai.
Vợ: Nại Thị P, sinh 1976
Con: 01 con sinh 2002
Tiền án tiền sự: Không
Nhân thân:
Tại Bản án số 17/HSST ngày 04/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bản án đã được xóa.
Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/04/2022 đến nay, tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố Hà Nội. Số giam:……………
Hành vi nêu trên của bị can Nguyễn Văn Q đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự .
Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
C, Heroin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị can Nguyễn Văn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị can không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn để xét xử bị can Nguyễn Văn Q (có lý lịch nêu trên) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
2. Kèm theo Cáo trạng có:
- Hồ sơ vụ án gồm: 01 tập được đánh số bằng tờ theo thứ tự từ 01 đến……..
- Bản kê vật chứng: 01 phòng bì niêm phong ma túy có chữ ký của bị can và giám định viên, chuyển đến Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn để giải quyết theo thẩm quyền.
- Danh sách những người VKS đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa.
| Nơi nhận: - TAND huyện Sóc Sơn; - VKSND TP Hà Nội; - Công an huyện Sóc Sơn; - Chi cục THA dân sự huyện Sóc Sơn; - Bị can; - Lưu: HSVA, HSKS, VP. | KT.VIỆN TRƯỞNG PHÓ VIỆN TRƯỞNG Phạm Thị Loan |