- Tranh chấp gì? án hình sự — "LAM Q - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 130/2022/HS-ST Ngày 05-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Kiều;
Bà Nguyễn Thụy Minh Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hƣơng – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2022/TLST- HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 139/2022/QĐXXST – HS ngày 25 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Lâm Q, sinh năm 1999; tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký thƣờng trú: ấp 6, xã V, huyện Q, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha vô danh và mẹ là bà Lâm Thị X; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2021 cho đến nay; có mặt
Bị hại: Ông Hà Tấn Đ, sinh năm 1979, đã chết. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1980 (vợ); Cháu Hà Hồng P, sinh ngày 13/10/2007 (con); cháu Hà Đăng K, sinh ngày 27/12/2014 (con); ngƣời đại diện hợp pháp cháu P và cháu K là bà Nguyễn Thị Ngọc B cùng thƣờng trú: ấp B1, xã B2, huyện C, tỉnh An Giang, có đơn xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; nơi thƣờng trú: ấp 2, xã N, huyện C1, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Bà Hà Thị T1, sinh năm 1969; địa chỉ: Số 1/68MB, khu phố 2, phƣờng T, thành phố A, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Cẩm D, sinh năm 2002; nơi thƣờng trú: Tổ 27, ấp Bình Thuận, xã B2, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Ông Huỳnh Vĩ K, sinh năm 2001; nơi thƣờng trú: Ấp F, xã I, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Bà Trần Kiều G, sinh năm 2002; nơi thƣờng trú: Ấp R, xã S, huyện Z, tỉnh Cà Mau, vắng mặt.
Những ngƣời tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1984, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 03/10/2017 Lâm Q điều khiển xe mô tô biển số 61C1-024.27 chở Huỳnh Vĩ K ngồi phía trƣớc gác baga, phía sau là Trần Kiều và Nguyễn Thị Cẩm D đến ngã 06 An Phú thuộc phƣờng An Phú, thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng gặp cảnh sát giao thông đang điều tiết giao thông. Do sợ bị phạt hành chính lỗi chở quá ngƣời và không đội mũ bảo hiểm theo quy định nên Q điều khiển xe chuyển hƣớng lƣu thông trên đƣờng Mỹ Phƣớc - Tân Vạn hƣớng về phƣờng Tân Bình, thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng. Khi đến đoạn đƣờng thuộc khu phố 1A, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng Q điều khiển xe chuyển hƣớng vào làn đƣờng xe ô tô theo chiều ngƣợc lại đi đƣợc một đoạn thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 67C1-318.51 do Hà Tấn Đ lƣu thông theo chiều ngƣợc lại với Q. Hậu quả sau va chạm: Hà Tấn Đ tử vong sau cấp cứu, D bị gãy chân trái, K, G bị trầy xƣớc ngoài da, hai xe mô tô hƣ hỏng.
Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 889/GĐPY ngày 07/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Hà Tấn Đ là do đa chấn thƣơng, choáng mất máu cấp.
Căn cứ vào Kết luận giám định số 51/GĐ-PC54 ngày 04/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, các Biên bản khám nghiệm phƣơng tiện giao thông và các tài liệu chứng cứ thu thập đƣợc có đủ căn cứ xác định vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 67C1- 318.51 với xe mô tô biển số 61C1-024.27 là phần bánh xe, dè chắn bùn trƣớc, đèn trƣớc, yếm chắn gió bên trái của xe mô tô biển số 67C1-318.51 va chạm vào dè chắn bùn, yến chắn gió, cần số, gác chân trƣớc bên trái của xe mô tô biển số 61C1-024.27. Cơ chế hình thành dấu vết trên xe mô tô biển số 67C1- 318.51 và xe mô tô biển số 61C1-024.27 là hai xe mô tô lƣu thông ngƣợc chiều với nhau thì xảy ra va chạm làm hai xe đỗ, ngã và va chạm với mặt đƣờng tạo nên các dấu vết trên hai phƣơng tiện và khiến ông Hà Tấn Đ tử vong.
Đối với thƣơng tích của G, K và D, quá trình điều tra G, K, D đều từ chối giám định thƣơng tích, không yêu cầu về bồi thƣờng trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 xe mô tô biển số 61C1-024.27; 01 xe mô tô biển số 67C1- 318.51.
Tại bản Cáo trạng số 121/CT-VKS-TA ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lâm Q về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh nhƣ cáo trạng đã truy tố, phân tích tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt bị cáo Lâm Q mức hình phạt từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.
Lời khai của ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những ngƣời làm chứng đã trình bày trong quá trình điều tra và không có ý kiến gì.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Bị cáo Lâm Q có yêu cầu xét xử vắng mặt, đơn đƣợc Nhà tạm giữ công an thành phố Thuận An xác nhận ngày 25 tháng 4 năm 2022. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp với điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và trong nội dung đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp
Trong bản tự khai (BL 203, 302), biên bản ghi lời khai các ngày 27/3/2018 (BL 206-207); ngày 27/7/2018 (BL 208-209); ngày 16/12/2021 (BL303-304); ngày 17/12/2021 (BL 306-307) biên bản hỏi cung bị can ngày 15/8/2018 (BL210-211), ngày 02/8/2018 (BL 212-213)......Bị cáo Lâm Q đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 03/10/2017, Lâm Q điều khiển xe mô tô biển số 61C1-02427 chở K ngồi phía trƣớc gác baga, phía sau là G và D lƣu thông đến đoạn đƣờng thuộc khu phố 1A, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng thì điều khiển xe chuyển hƣớng vào làn đƣờng xe ô tô theo chiều ngƣợc lại gây ra va chạm với xe mô tô biển số 67C1-318.51 do Hà Tấn Đ lƣu thông theo chiều ngƣợc lại với Q. Hậu quả sau va chạm: Hà Tấn Đ tử vong sau cấp cứu, D bị gãy chân trái, K, G bị trầy xƣớc ngoài da, hai xe mô tô hƣ hỏng. Hành vi của bị cáo Lâm Q thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lâm Q là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi của bị cáo Lâm Q là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ năng lực hành vi, bị cáo biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nhƣng bị cáo không nghiêm chỉnh chấp hành, khi chuyển hƣớng xe không chú ý quan sát dẫn đến tai nạn làm cho 01 ngƣời tử vong, gây đau thƣơng, mất mát cho gia đình nạn nhân, ảnh hƣởng xấu đến trật tự an toàn giao thông tại địa phƣơng, lỗi của bị cáo là vô ý do cẩu thả. Hiện nay, tình hình vi phạm luật giao thông đƣờng bộ của một số ngƣời tham gia giao thông dẫn đến các vụ tai nạn giao thông vẫn còn nhiều, gây thiệt hại nặng nề về ngƣời và tài sản cho nhân dân, gây bức xúc cho xã hội, tạo cho mọi ngƣời cảm giác không an toàn khi tham gia giao thông. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với hành vi đã thực hiện để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện các tình tiết tang nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng nhƣ đơn yêu cầu xét xử vắng mặt bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra bị cáo tác động gia đình bồi thƣờng thiệt hại cho gia đình bị hại đồng thời gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009) khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối chiếu với mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp đối với bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là nghiêm khắc chƣa tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng nhƣ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục giao xe mô tô biển số 61C1-02427, nhãn hiệu Futirfi, số loại 110, dung tích xy lanh 107cm3, số khung RRKWCH2UMAXM09448, số máy VTT45JL1P52FMH009948 (xe hƣ hỏng nặng, gãy cổ xe phía trƣớc, hƣ hỏng phần đầu xe) cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An điều tra và xử lý theo quy định.
Quá trình điều tra xác định xe môt ô biển số 67C1-318.51 là tài sản của ông Nguyễn Văn T, ông T cho Hà Tấn Đ mƣợn xe làm phƣơng tiện đi lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông T là đúng quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô biển số 61C1-02427, quá trình điều tra xác định bà Hà Thị T1 đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe, bà T1 cho biết đã bán chiếc xe nêu trên cho một ngƣời không nhớ rõ nhân thân, địa chỉ vào năm 2011. Bị cáo Lâm Q khai nhận đã mua xe mô tô trên của một ngƣời không nhớ rõ nhân thân, địa chỉ và không lập giấy tờ mua bán. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành thông báo truy tìm chủ sở hữu nhƣng đến nay chƣa tìm đƣợc chủ sở hữu xe. Do vậy, tiếp tục giao xe mô tô biển số 61C1-02427 cho Công an thành phố Thuận An xử lý theo Q định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: không có.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009);
Căn cứ vào Điều 136; điểm c, d khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lâm Q phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.
Xử phạt bị cáo Lâm Q 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 16/12/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Tiếp tục giao xe mô tô biển số 61C1-02427, nhãn hiệu Futirfi, số loại 110, dung tích xy lanh 107cm3, số khung RRKWCH2UMAXM09448, số máy VTT45JL1P52FMH009948 (xe hƣ hỏng nặng, gãy cổ xe phía trƣớc, hƣ hỏng phần đầu xe) cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An điều tra và xử lý theo quy định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/10/2018 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An và Công an thành phố Thuận An).
3. Về trách nhiệm dân sự: Không có.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lâm Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết công khai./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Bị hại; - Lƣu: HS, THAHS, VT. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |