vanban.org

Bản án 130/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 31/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2021/HSST
Ngày: 31/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thành

2. Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Như Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 31/12/2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2021/HSST, ngày 30/11/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2021/QĐXXST-HS ngày 20/12/2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1976 tại C, Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư V, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q; có vợ là Nguyễn Thị M; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không. Bị cáo tại ngoại; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 2002;

Địa chỉ: Khu dân cư L, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 55 phút ngày 11/11/2021, Hoàng Văn T có sử dụng tài khoản Zalo tên “Hoàng Văn T” nhắn tin cho tài khoản Zalo tên “Nguyễn Văn Đ” (do Nguyễn Văn Đ sử dụng) để đặt vấn đề mua số lô, số đề trái quy định của pháp luật. Do muốn kiếm lợi từ việc này nên Nguyễn Văn Đ đồng ý bán cho Hoàng Văn T các số lô, số đề trái quy định gồm: số lô 57 ứng với 100 điểm, tương đương số tiền 2.000.000đ, số lô 75 và 55 mỗi số 50 điểm = 2.000.000đ; lô xiên hai 57-75 và 75-55, mỗi số 200.000đ = 400.000đ; lô xiên ba 57-75-55 ứng với số tiền 100.000đ, các số đề 45,55,65,75 mỗi số ứng với số tiền 50.000đ. Tổng số tiền ứng với các số lô mà T đã mua là 4.700.000đ. Sau đó, T hẹn Đ đến khu vực gần cây xăng dầu số 2 Côn Sơn có địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương để trả tiền ứng với các số lô, số đề đã mua. Đ có lấy 01 chiếc bút bi nhãn hiệu Thiên Long, mực màu đỏ ghi ra 01 mảnh giấy kích thước (7,5x15,5)cm các số lô, số đề mà T đã mua. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, T đi cùng Nguyễn Văn P tới cây xăng dầu số 2 Côn Sơn gặp Đ. Tại đây, T đưa cho Đ số tiền 4.700.000đ. Đ nhận tiền xong và để ở túi áo trên ngực bên phải. Thấy vậy, P hỏi T và biết được đó là tiền T đã mua số lô, số đề trái quy định của Đ. Do muốn kiếm lợi từ việc này P có đặt vấn đề mua số lô trái quy định của Đ. Đ đồng ý và lấy chiếc bút bi nhãn hiệu Thiên Long, mực màu đỏ ghi vào 01 mảnh giấy kích thước (8x5,5)cm, số lô mà P đã mua là 11 ứng với 25 điểm tương đương số tiền là 500.000đ rồi ký vào mảnh giấy. P đưa cho Đ số tiền 500.000đ. Lúc này lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và lập biên bản thu giữ các tang vật có liên quan.

Về hình thức chơi các số lô, số đề trái quy định của Nhà nước là: Người chơi sẽ chọn một số tự nhiên từ 00 đến 99 để mua làm số lô hoặc số đề, chọn hai cặp số tự nhiên từ 00 đến 99 để làm số lô xiên hai, chọn ba cặp số tự nhiên từ 00 đến 99 để làm số lô xiên ba. Các số lô, số lô xiên, số đề người chơi đã mua hàng ngày căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày để so sánh với các giải thưởng để tính thắng thua. Nếu số đề người chơi đã mua trùng với hai cặp số cuối của hai trong tất cả các giải thưởng thì thắng, không thì thua. Với cặp số lô xiên ba người chơi mua trùng với ba cặp số cuối của ba trong tất cả các giải thưởng thì thắng, không thì thua.

Cách tính thắng, thua trong việc mua bán số lô, số đề trái quy định của Nhà nước là: Quy định 01 điểm lô tương ứng 20.000đ, nếu thắng được 70.000đ; Còn với số đề tỷ lệ thắng là: 1 được 70, người chơi mua 1.000đ khi thắng dược 70.000đ. Với số lô xiên 2 tỷ lệ thắng là 1 được 10, người chơi mua 1.000đ khi thắng được 10.000đ. Với số lô xiên 3 tỷ lệ thắng là: 1 được 40, người chơi mua 1.000đ khi thắng được 40.000đ. Khi các số lô, số đề người mua không trúng tức là người chơi thua bạc, số tiền thua là số tiền người chơi đã bỏ ra mua các số lô, lô xiên hai, lô xiên ba, số đề ban đầu.

Ngày 11/11/2021 là lần đầu tiên bị cáo Đ bán số lô, số đề trái quy định của Nhà nước. Khi vừa bán được cho T, P thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện. Nếu không bị phát hiện, Đ sẽ tính thắng, thua và trả thưởng vào ngày hôm sau.

Bản Cáo trạng số 125/CT-VKSCL ngày 30/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 32, Điều 35, điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 5.200.000đ sử dụng vào việc đánh bạc; 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước và mặt sau đều có chữ “Samsung”, số IMEI1: 353751097076591, số IMEI2: 353752097076599, có gắn sim số 0358441376, máy và sim đã qua sử dụng của bị cáo Đ. Tịch thu, tiêu hủy: 01 bút bi có mực đỏ, nhãn hiệu Thiên Long, đã qua sử dụng. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản làm việc, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 40 phút ngày 11/11/2021, tại khu vực gần cây xăng dầu số 2 C có địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn Đ có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề cho các đối tượng Hoàng Văn T với số tiền là 4.700.000đ và Nguyễn Văn P số tiền là 500.000đ. Tổng số tiền Đ tham gia đánh bạc với các đối tượng là 5.200.000đ thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ và mục đích tư lợi, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội là khách thể được Bộ luật hình sự bảo vệ. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tích cực tham gia công tác phòng chống Covid được Ủy ban Mặt trận tổ quốc phường Văn Đức xác nhận. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù hoặc cải tạo không giam giữ, mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đảm bảo để cải tạo, giáo dục và răn đe đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung với bị cáo.

Đối với Hoàng Văn T và Nguyễn Văn P có hành vi đánh bạc với Nguyễn Văn Đ nhưng hành vi của T và P chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 29/11/2021, Công an thành phố Chí Linh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng này là phù hợp.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- Số tiền 5.200.000đ là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước và mặt sau đều có chữ “Samsung”, số IMEI1: 353751097076591, số IMEI2: 353752097076599, có gắn sim số 0358441376, máy và sim đã qua sử dụng của bị cáo Đ. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 chiếc bút bi có mực đỏ, nhãn hiệu Thiên Long, đã qua sử dụng là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- 01 mảnh giấy kích thước (7,5x15,5)cm ghi các số lô, số đề mà T đã mua và 01 mảnh giấy kích thước (8x5.5)cm ghi số lô mà P đã mua, các mảnh giấy này là chứng cứ tài liệu quan trọng nên cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, dung lượng 64Gb số Imei 357209098317627, lắp sim số 0869235220 do T mượn của anh Nguyễn Đức K, sinh năm 2001, trú tại: Thôn T, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương để sử dụng. Anh K không biết việc T sử dụng điện thoại nhắn tin trao đổi việc mua số lô, số đề ngoài Nhà nước. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Chí Linh đã trả chiếc điện thoại trên cho anh K và không xử lý anh K là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 32, Điều 35, điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:

+ Tổng số tiền 5.200.000đ, trong đó: 4.700.000đ đựng trong phong bì niêm phong mặt trước ghi: “M1”, mặt sau có dấu đỏ giáp lai của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh và 03 chữ ký họ tên của: Lê Thanh H, Dương Cao T, Vũ Việt A; 500.000đ đựng trong phong bì niêm phong mặt trước ghi: “M2”, mặt sau có dấu đỏ giáp lai của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh và 03 chữ ký họ tên của: Lê Thanh H, Dương Cao T, Vũ Việt A;

+ 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước và mặt sau đều có chữ “Samsung”, số IMEI1: 353751097076591, số IMEI2: 353752097076599, có gắn sim số 0358441376, máy và sim đã qua sử dụng của bị cáo Đ.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bút bi có mực đỏ, nhãn hiệu Thiên Long, đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/12/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ