vanban.org

Bản án 130/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 10/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Minh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2021/HSST
Ngày: 25-11- 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vũ Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Hiến

2. Bà Võ Thị Kim Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Huệ- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 117/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2021/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân M, sinh ngày 13 tháng 11 năm 1989 tại ; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện P, tỉnh Q; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm: 1966 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1968, cùng trú tại: Thôn B, xã T, huyện P, tỉnh Q; vợ Phan Thị T, sinh năm: 1990, con: 03 con, con lớn sinh năm 2012 và con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2021, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 30/7/2021, Nguyễn Xuân M đi taxi đến khu vực đường Cồn Cỏ thuộc Khu phố A, Phường B, thành phố Đ tìm gặp 01 nam thanh niên (Không rõ nhân thân, lai lịch) mua 10 viên ma túy với giá 1.000.000 đồng. Sau khi có ma túy, Minh cất giấu tại túi quần phía trước bên trái rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khi đến khu vực đường Ngô Sỹ Liên giao đường Phan Huy Chú thuộc Khu phố A, Phường B, thành phố Đ thì bị Công an thành phố Đông Hà bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 800/KLGĐ-KTHS ngày 03/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 10 viên nén thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M có khối lượng 0,9665g là ma túy Methamphetamine.

Cáo trạng số 123/CT-VKSĐH ngày 21/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Xuân M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Xuân M từ 18 đến 21 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định ký hiệu PS3A 103294 đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Thăng Long, màu vàng.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 01 giờ 15 phút, ngày 30/7/2021, tại khu vực đường Ngô Sỹ Liên giao với đường Phan Huy Chú thuộc Khu phố A, Phường B, thành phố Đ, Công an thành phố Đông Hà bắt quả tang Nguyễn Xuân M tàng trữ 10 viên ma túy hồng phiến được cất giấu tại túi quần phía trước bên trái của bị cáo. Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận nguồn gốc số ma túy trên bị cáo mua của một nam thanh niên (Không rõ lai lịch, địa chỉ) để sử dụng.

Theo kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 10 viên nén thu giữ có khối lượng 0,9665g là ma túy Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy hiện đang là một trong những tệ nạn lớn của xã hội, gây tác hại rất nhiều mặt đến đời sống kinh tế, làm mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân sống trên địa bàn và là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng, hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ và có nhân thân tốt. Tuy nhiên, hiện nay tội phạm ma túy trên địa bàn thành phố Đông Hà có xu hướng gia tăng nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm nhằm răn đe, cải tạo và giáo dục bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3A 103294 đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Thăng Long, màu vàng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với nam thanh niên bán ma túy do không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý theo quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Xuân M: 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/7/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3A 103294 đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Thăng Long, màu vàng.

(Số vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ