vanban.org

Bản án 130/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 06/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thành C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Thành C 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Thành C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thành C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thành C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 130/2021/HS-ST
Ngày: 06/5/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Phương Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lan

Bà Trần Thị Minh

- Thƣ ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lương Thúy Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Thành C, sinh năm 1979 tại Hà Nội; HKTT và nơi cư trú: số .., ngách …, tổ .., phường Y, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Xuân C1 (sinh năm: 1954) và bà: Cao Thị H(sinh năm: 1957); Có vợ là Cao Thị S (sinh năm: 1979); có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2002; Danh chỉ bản số 25, lập ngày 29/12/2020 tại Công an quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 17/10/2014, tàng trữ trái phép chất ma túy, bản án số 276/2016/HSPT ngày 13/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử Miễn trách nhiệm hình sự.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/12/2020; tạm giam từ ngày 30/12/2020; hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Diệp L, sinh năm 1984; Nơi cư trú: số .., tổ ..., phường Y, quận H, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 21/12/2020, tại khu vực trước số nhà 33, tổ 15, đường Vành đai 3, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, Hà Nội, tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận Hoàng Mai tiến hành kiểm tra đối với Vũ Thành C đang ngồi sau xe máy Honda Spacy màu trắng, BKS: 30Z - 012.08 do Đặng Diệp L điều khiển, có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra, Vũ Thành C tự giao nộp 01 gói nhỏ bọc bằng tờ tiền 5.000đồng, kích thước (1,5 x 1,5)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, C khai là ma túy Heroine mua về sử dụng. Kiểm tra Đặng Diệp L, không phát hiện gì. Tổ công tác đã tạm giữ của Đặng Diệp L 01 xe máy Honda Spacy màu trắng, BKS: 30Z - 012.08. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở Công an để làm rõ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàng Mai có quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ của Vũ Thành C.

Tại bản kết luận giám định số 11263/KLGĐ-PC09 ngày 29/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói bằng tờ tiền 5.000VNĐ là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,148gam.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Thành C khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng trưa ngày 21/12/2020, C đi đến khu vực cầu Thanh Trì để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, C gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000đồng được bọc trong tờ tiền 5.000đồng. Mua xong, C cất vào túi quần bên phải rồi đến nhà bạn chơi. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, C từ nhà bạn đi về và có đi nhờ xe của Đặng Diệp L. Khi đến trước cửa số nhà 33, tổ 15 đường Vành đai 3, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, Hà Nội thì bị cơ quan công an bắt quả tang và thu giữ tang vật. C không cho L biết C tàng trữ ma túy trong người.

Ngày 21/12/2020 cơ quan công an đã dẫn giải C đi xác định địa điểm được người đàn ông đã bán ma túy cho C tại khu vực chân cầu Thanh Trì, nhưng không xác định được người đã bán ma túy cho Công nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Xét nghiệm ma túy đối với Vũ Thành C và Đặng Diệp L, kết quả: Vũ Thành C dương tính với ma túy, Đặng Diệp L âm tính với ma túy.

Lời khai của Đặng Diệp L phù hợp với lời khai của Vũ Thành C. L khai không có quan hệ gì với C, chỉ cho C đi nhờ xe, việc C tàng trữ ma túy trong người L không biết, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Spacy, màu trắng, BKS: 30Z1-012.08, số khung: WH125LZ960301406, số máy: JF04E006935 thu giữ của Đặng Diệp L. L khai mua vào khoảng năm 2013 của một người đàn ông không quen biết, khi mua có đầy đủ giấy tờ, nhưng quá trình sử dụng L đã làm mất giấy tờ đăng ký xe. Qua tra cứu biển số, số khung, số máy chiếc xe trên, không tìm thấy dữ liệu chủ đăng ký xe. Tại bản kết luận giám định số 1676/KL-PC09-DD3 ngày 01/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: số khung và số máy của xe là nguyên thủy. Xác minh không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàng Mai đã đăng báo tìm chủ sở hữu của chiếc xe máy, nhưng không ai đến cơ quan điều tra làm việc về chiếc xe máy đó.

Tại Bản cáo trạng số 93/CT-VKS-HM ngày 24 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Vũ Thành C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thành C khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C với mức hình phạt từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,148 gam Heroine và 01 biển kiểm soát 30Z1-012.08; Tịch thu sung công: 01 bao niêm phong bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 5000 Việt Nam đồng và 01 chiếc xe máy Honda Spacy màu trắng, số khung: WH125LZ960301406, số máy: JF04E006935.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 21/12/2020, tại khu vực trước số nhà 33, tổ 15, đường Vành đai 3, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Vũ Thành C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,148 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng. Hành vi đó không những đã vi phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, mà còn gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Vũ Thành C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Thành C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, nhân thân bị cáo đã từng bị đưa ra xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tại bản án số 276/2016/HSPT ngày 13/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử Miễn trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thành C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Vũ Thành C là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có 0,148 gam ma túy loại Heroine.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 bao niêm phong bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 5000 Việt Nam đồng.

- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Spacy màu trắng, số khung: WH125LZ960301406, số máy: JF04E006935 thu giữ của anh Đặng Diệp L. Quá trình điều tra, anh L khai chiếc xe máy trên anh L đã mua khoảng năm 2013; xác minh không có trong cơ sở xe máy vật chứng; giám định số khung, số máy là nguyên thủy. Tại Biên bản kiểm tra xe máy ngày 21/12/2020 cơ quan công an không phát hiện và thu giữ gì liên quan đến vụ án. Xét chiếc máy trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thành C nên trả lại cho anh L chiếc xe máy trên.

- Đối với chiếc biển kiểm soát: 30Z1-012.08, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với anh Đặng Diệp L đi xe máy chở bị cáo C, xét thấy anh L không biết C tàng trữ ma túy, nên cơ quan điều tra công an quận Hoàng Mai không xem xét xử lý là đúng.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho C: C khai không biết tên tuổi, địa chỉ. Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai không xác định được danh tính nên không có căn cứ để xử lý là đúng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Căn cứ các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thành C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt: Bị cáo Vũ Thành C 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Thành C.

3. Về các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có 0,148 gam ma túy loại Heroine (bên ngoài bao niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ niêm phong và Vũ Thành C) và 01 biển kiểm soát 30Z1-012.08.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 bao niêm phong bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 5000 Việt Nam đồng, bên ngoài bao niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ niêm phong và Vũ Thành C.

- Trả lại anh Đặng Diệp L: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Spacy màu trắng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (theo biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu ban đầu), còn theo phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của công an quận Hoàng Mai có số khung: WH125LZ960301406, số máy: JF04E006935 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thành C.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội theo Phiếu nhập kho số NK2021-00157 ngày 29 tháng 3 năm 2021).

4. Về án phí: Bị cáo Vũ Thành C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Thành C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ