vanban.org

Bản án 130/2021/DS-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

Về con chung: Bà H được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 08/8/2010 đang sống chung với bà H. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà H xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 130/2021/DS-ST
Ngày: 13 – 4 – 2021
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Phước Tân;

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền;

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú t ử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 411/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra t ử số: 95/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01/3/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thúy H, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Số 269/HB, ấp HB, xã MH, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Ấp VB, xã VH, huyện A, tỉnh An Giang.

(Bà H có đơn t ử vắng mặt, ông L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2020 cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà H trình bày: Hôn nhân giữa bà với ông Nguyễn Văn L do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân ã VH, huyện An Phú, tỉnh An Giang vào ngày 02/10/2008 theo giấy chứng nhận kết hôn số 108 quyển số 01/2008. Sau khi kết hôn bà và ông L lên Thành phố Hồ Chí Minh sống bằng nghề làm thuê, cuộc sống hạnh P nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là bất đồng quan điểm, cuộc sống không phù hợp, ông L thường hay uống rượu và có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, thường đánh đập bà nhiều lần. Đến ngày 03/10/2020, ông L lại tiếp tục đánh đập bà nên bà đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở Bến Tre và đã không còn chung sống với nhau từ thời gian đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nay bà yêu cầu in ly hôn với ông L.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 08/8/2010, cháu hiện nay đang sống với bà, khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết

- Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thông báo thụ lý, hòa giải cũng như thông báo về việc tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông L theo quy định nhưng ông vắng mặt. Để đảm bảo quyền lợi của ông L, Tòa án có đến nhà của ông để ghi nhận ý kiến nhưng không gặp nên không thể ghi nhận ý kiến của ông.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 18/12/2020, cháu Nguyễn Trọng P khai: Hiện nay cháu đang sống với mẹ (H), nay mẹ in ly hôn với cha thì cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

Để ác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp, Tòa án đã thực hiện thủ tục thu thập chứng cứ là ác minh tình trạng mâu thuẫn vào ngày 22/02/2021, được ông Nguyễn Văn H1 cho biết: Ông là cha ruột của ông L, hôn nhân giữa ông L và bà H là do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn. Sau đó cả hai lên thành phố Hồ Chí Minh sinh sống bằng nghề làm thuê, trong quá trình chung sống giữa ông L và bà H thường hay cự cãi, gây gỗ, thậm chí ẩu đả và giữa H với L không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2020 cho đến nay. Trong quá trình chung sống hai bên có 01 con chung tên Nguyễn Trọng P như bà H khai, cháu hiện nay đang sống với bà H và gia đình. Tài sản chung và nợ chung ông không biết.

Tại biên bản ác minh ngày 22/02/2021 được công an ã VH cho biết hiện ông Nguyễn Văn L vẫn còn đăng ký thường trú tại ã VH theo tàng thư công an đang lưu giữ.

Tại phiên toà, bà H in vắng mặt nhưng bảo lưu ý kiến. Riêng ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi hòa giải, ác minh thu thập chứng cứ, ác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng t ử, thư ký không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, tại phiên tòa cũng như thủ tục t ử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân giữa bà H và ông L có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể k o dài nên đề nghị Hội đồng t ử chấp nhận yêu cầu của bà H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 08/8/2010, cháu hiện nay đang sống với bà H. Để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển, ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt và đều này cũng phù hợp với nguyện vọng của bà H và cháu P nên đề nghị Hội đồng t ử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu P cho bà H được tiếp tục nuôi dạy.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà H không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng t ử không em t giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng t ử không em t giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng t ử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Huỳnh Thị Thúy H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn L. Ông L có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông L được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, bà H có đơn in vắng mặt. Hội đồng t ử tiến hành t ử vắng mặt ông, bà theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa Bà H và ông L có đăng ký kết hôn theo quy định nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

X t yêu cầu của bà H ly hôn với ông L thì thấy: Trong đời sống hôn nhân giữa hai bên thường hay phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, quá trình không chung sống cả hai bên không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm gia đình và quá trình giải quyết vụ án, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông L. Do vậy có căn cứ cho thấy mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được, đời sống chung không thể k o dài, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng nên yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Cháu Nguyễn Trọng P, sinh ngày 08/8/2010 đang sống với bà H và có nguyện vọng muốn sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển, ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt và điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của bà H và cháu P nên Hội đồng t ử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu P cho bà H được tiếp tục nuôi dạy.

Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà H không yêu cầu nên Hội đồng t ử không em t giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H không yêu cầu nên Hội đồng t ử không em t giải quyết.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các l trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

Về con chung: Bà H được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 08/8/2010 đang sống chung với bà H. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về án phí: Bà Huỳnh Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0004899 ngày 02/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 108, quyển số 01/2008, cấp ngày 02/10/2008 tại Ủy ban nhân dân xã VH không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Cỡ chữ