vanban.org

Bản án 130/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 04/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân phƣờng Đ nhận đƣợc quyết định thi hành án. Giao bị cáo Vũ Văn T cho Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T - phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 176 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 176 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 130/2020/HS-ST
Ngày 04-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 143/2020/HSST ngày 07 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 116/2020/QĐXXST-HS ngày 10/4/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2020/QĐST-HS ngày 23/4/2020 đối với bị cáo:

Vũ Văn T, sinh năm 1981 tại tỉnh Quảng Ninh; thƣờng tr : Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh H; tạm tr : 49/14 khu phố Đ, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh B; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Vũ Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị V (đã chết); bị cáo có 06 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1967, nhỏ nhất sinh năm 1984; có vợ tên Phan Thị H, sinh năm 1985 và 02 ngƣời con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có m t.

- Bị hại: Anh Lê Anh S, sinh năm 1975; thƣờng tr : Số 620/88, tổ 8, khu phố 1, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có yêu cầu giải quyết vắng m t.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Công ty TNHH một thành viên dịch vụ bảo vệ H; trụ sở: Tổ 8, khu phố 5, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;

Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Đ ng Văn Đ, sinh năm 1969; thƣờng tr : Số 142/8/6, khu phố 6, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ; chỗ ở: Số 39/2/8, tổ 24, khu phố 5, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ. Có yêu cầu giải quyết vắng m t.

- Người làm chứng:

+ Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1982. Vắng m t.

+ Anh Vũ Đức H, sinh năm 1990. Vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vũ Văn T làm nghề lái xe ô tô Grab, thƣờng đỗ xe đón khách tại khu vực gần cổng siêu thị B, đƣờng GS1, phƣờng Đ, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/10/2019, Vũ Văn T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INNOVA màu đồng, biển số 34A-268.02 chở khách là anh Lê Anh S chạy về nhà tại địa chỉ khu dân cƣ thuộc phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, Vũ Văn T điều khiển xe ô tô về nhà tại địa chỉ 49/14 T, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện anh S để quên trên xe ô tô 01 túi áo mƣa màu xanh đen bên trong có hộp nhựa chứa 01 khẩu súng công cụ hỗ trợ bắn đạn cao su hiệu Ekol Aras, số hiệu 1340918, 10 viên đạn bên trong hộp tiếp đạn, 02 viên đạn bên ngoài, số tiền 30.000.000 đồng, 01 bộ giấy chứng nhận đăng ký xe và đăng kiểm xe ô tô. Vũ Văn T lấy 30.000.000 đồng bỏ vào bóp da, những tài sản còn lại đem vào nhà cất giữ. Đến chiều ngày 20/10/2019, anh S nhờ chị Trần Thị Thanh T tìm Vũ Văn T để lấy lại những tài sản bỏ quên. Vũ Văn T không thừa nhận nh t đƣợc tài sản của anh S nhằm chiếm giữ để tiêu xài cá nhân, sử dụng; đƣa ra thông tin khi chở anh S về đã chở thêm 2 ngƣời khách khác và có khả năng những ngƣời khách đã lấy t i đồ. Vũ Văn T hứa sẽ liên lạc lại cho chị T nếu tìm đƣợc ngƣời lấy t i đồ. Chị T nói anh S biết. Anh S nhờ anh Vũ Đức H liên lạc với T để xin chuộc khẩu súng cùng giấy tờ xe ô tô bỏ quên thì T nói chƣa tìm đƣợc ngƣời lấy đồ. Đến ngày 24/11/2019, T điện thoại lại cho anh H nói đã liên lạc đƣợc với ngƣời lấy t i đồ nhƣng họ yêu cầu chuộc 17.000.000 đồng thì anh S đồng ý. Đến ngày 26/11/2019, H đến đƣờng GS1 gần cổng siêu thị B, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh B g p T đƣa 17.000.000 đồng nhƣng T hẹn anh H đến ngày 27/11/2019 sẽ đƣa lại khẩu súng và giấy tờ xe ô tô. Đến khoảng 11 giờ 15 phút ngày 27/11/2019, T g p anh H đang nói chuyện thì lực lƣợng Công an thành phố Dĩ An yêu cầu về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra, Vũ Văn T khai nhận hành vi chiếm giữ tài sản của mình, chiếm giữ số tiền 30.000.000 đồng của anh Lê Anh S đã tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) khẩu súng công cụ hỗ trợ bắn đạn cao su hiệu Ekol Aras, số hiệu 1340918; 12 (mƣời hai) viên đạn đầu đạn cao su; 01 bộ giấy chứng nhận đăng ký xe và đăng kiểm xe ô tô biển số: 60A-267.43; số tiền 17.000.000 đồng; 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INNOVA màu đồng, biển số: 34A-268.02; số tiền 30.000.000 đồng do Vũ Văn T giao nộp.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 09/BB.ĐG ngày 09/01/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng kết luận: 01 (một) súng công cụ hỗ trợ bắn đạn cao su hiệu Ekol Aras, số hiệu 1340918 có trị giá 7.000.000 đồng; 12 (mƣời hai) viên đạn đầu đạn cao su có trị giá 1.188.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm giữ trong vụ án là 38.188.000 đồng.

Đối với hành vi của Vũ Văn T đƣa ra thông tin ngƣời khách có yêu cầu đƣa số tiền 17.000.000 đồng để chuộc lại đƣợc t i đồ nhƣng do anh Lê Anh S đề nghị đƣợc chuộc và chủ động tự nguyện xin chuộc nên hành vi của Thái không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Đối với Vũ Văn T không có hành vi đe dọa hay ép buộc gì để yêu cầu đòi tiền anh Lê Anh S nên hành vi của Vũ Văn T không đủ cấu thành tội cƣỡng đoạt tài sản.

Cáo trạng số 176/CT-VKS ngày 07/4/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội chiếm giữ trái phép tài sản quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 176; điểm i, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Văn T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm giữ trong vụ án đã thu hồi trả lại cho bị hại và bồi thƣờng khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đ t ra.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn T không tranh luận, đối đáp gì, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.

Tại đơn xin xét xử vắng m t, bị hại không yêu cầu gì và xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghãi vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào ngày 19/10/2019, tại khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Vũ Văn T sau khi nh t đƣợc tài sản của anh Lê Anh S gồm 01 t i áo mƣa màu xanh đen bên trong có hộp nhựa chứa 01 khẩu súng công cụ hỗ trợ bắn đạn cao su hiệu Ekol Aras, số hiệu 1340918, 10 viên đạn bên trong hộp tiếp đạn, 02 viên đạn bên ngoài, số tiền 30.000.000 đồng, 01 bộ giấy chứng nhận đăng ký xe và đăng kiểm xe ô tô; tổng giá trị tài sản 38.188.000đồng nhƣng đã cố tình không trả lại cho chủ sở hữu. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo Vũ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 176/CT - VKS ngày 07 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An) và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Vũ Văn T là có căn cứ, đ ng ngƣời, đ ng tội và đ ng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm giữ tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết đƣợc quy định tại điểm i, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 nên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời có công việc ổn định, có nhân thân tốt, chƣa có tiền án tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt gồm 01 khẩu súng công cụ hỗ trợ bắn đạn cao su hiệu Ekol Aras, số hiệu 1340918, 10 viên đạn bên trong hộp tiếp đạn, 02 viên đạn bên ngoài, số tiền 30.000.000 đồng, 01 bộ giấy chứng nhận đăng ký xe và đăng kiểm xe ô tô; tổng giá trị tài sản 38.188.000đồng. Tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại. Bị hại không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không xem xét giải quyết.

Xét thấy, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cƣ tr rõ ràng, nhất thời phạm tội, trong thời gian tại ngoại, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phƣơng. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội và việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo cũng nhƣ trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Xét bị cáo là lao động chính trong gia đình, có thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ Nhà nƣớc theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ tr số 37/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 14/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 176; điểm i, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân phƣờng Đ nhận đƣợc quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Vũ Văn T cho Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ tr thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ tr số 37/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 14/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Vũ Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ