- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tang Thị X - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tang Thị X: 07 (bảy) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 05/4/2019.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2019/HS-ST Ngày: 12-11-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Moong Văn Bình
Ông Dềnh Chá Xìa
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Và Bá Của - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2019/TLST-HS, ngày 17 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 đối với:
Bị cáo: Tang Thị X. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1993 tại xã BL, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Kẻo Nam, xã BL, huyện KS, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Phò May (tên gọi khác: Lương Phò Nam) (đã chết) và bà Xeo Mẹ On (tên gọi khác Lương Mẹ May) (đã chết); Có chồng họ và tên: Tang Văn Thây, có 01 con, sinh năm 2015; tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2019 cho đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Tang Thị X: Ông Nguyễn Văn Hùng. Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người phiên dịch: Bà Cụt Thị Hương. Đơn vị công tác: Phòng văn hóa thông tin truyền thông huyện KS. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Cụt Văn Vắt. sinh năm 1989. Nơi cư trú: Bản Huồi Cáng 1, xã BL, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 3/2019, Tang Thị X đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đến hỏi Xi “Có lấy ma túy bán kiếm lời không”, thì Xi đồng ý. Người này đưa cho Xi 01 (một) túi potylen màu xanh có chứa 100 (một trăm) viên ma túy tổng hợp, 05 (năm) cục heroine gói trong bao potylen màu xanh, 04 (bốn) gói heroine gói trong giấy trắng có chữ. Trước khi người này về, thì Xi và người này thỏa thuận khi nào Xi bán hết số ma túy trên thì người này quay lại lấy tiền, chia nhau tiền lời. Sau khi nhận được số ma túy trên, Xi nhiều lần bán lẻ cho nhiều người nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Đến khoảng 17 giờ ngày 05/4/2019, Xi đang ở nhà thì bị bộ đội Biên phòng đồn Mỹ Lý và Công an huyện KS phối hợp bắt quả tang thu giữ cùng tang vật số ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 06/4/2019 đã xác định: Chất màu trắng trong gói thứ nhất có khối lượng 0,05 gam (gọi là M1), Chất màu trắng trong gói thứ hai có khối lượng 0,05 gam (gọi là M2), Chất màu trắng trong gói thứ ba có khối lượng 0,05 gam (gọi là M3), Chất màu trắng trong gói thứ tư có khối lượng 0,05 gam (gọi là M4), Chất màu trắng trong gói thứ năm có khối lượng 0,15 gam (gọi là M5), Chất màu trắng trong gói thứ sáu có khối lượng 0,15 gam (gọi là M6), Chất màu trắng trong gói thứ bảy có khối lượng 0,15 gam (gọi là M7), Chất màu trắng trong gói thứ tám có khối lượng 0,15 gam (gọi là M8), Chất màu trắng trong gói thứ chín có khối lượng 0,15 gam (gọi là M9), Số viên nén màu hồng có khối lượng là 6 gam (sáu) (gọi là M10). Hội đồng đã trích 0,05 gam (Không phẩy không năm) của mỗi mẫu từ M1 đến M9, 05 (năm) viên màu hồng (0,5 gam) của mẫu M10 để gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 599/KL-PC09(MT) ngày 09/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất màu trắng của các mẫu từ M1 đến M9 gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Mẫu viên nén màu hồng mẫu M10 gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine).
Cáo trạng số 132/CT-VKS-HS ngày 15/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An truy tố Tang Thị X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tang Thị X mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và dấu điểm chỉ của Tang Thị X, bên trong chứa số ma túy có khối lượng còn lại là 0,5 gam heroine (Không phẩy năm) và 5,5 gam (năm phẩy năm) Methamphetamine cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Tang Thị X đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh: Đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Về hình phạt: Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, động cơ, mục đích phạm tội, hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử mức án thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện KS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt của người chứng kiến, tuy nhiên xét thấy không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Tang Thị X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 05/4/2019, tại khu vực bản Kẻo Nam, xã BL, huyện KS, tỉnh Nghệ An, Tang Thị X đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy gồm: 05 (năm) cục heroine và 04 (bốn) gói heroine có khối lượng 0,95 gam (không phẩy chín mươi lăm) và 01 (một) túi potylen màu xanh có chứa Methamphetamine có khối lượng 6 (sáu) gam với mục đích để bán kiếm lời thì bị Công an huyện KS và đồn biên phòng Mỹ Lý phối hợp phát hiện và bắt quả tang. Trước đó, Tang Thị X cũng thừa nhận đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều người nhưng quá trình điều tra không xác định được danh tính cụ thể của người mua ma túy nên chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự của Xi theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 4 của Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng của hai chất ma túy gồm Heroine và Methamphetamine là 6,95 gam. Thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội mà còn ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội, sức khỏe và làm gia tăng tội phạm khác. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi nguy hiểm. Xét: Cần lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, thuộc hộ cận nghèo, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và dấu điểm chỉ của bị cáo Tang Thị X, bên trong chứa số ma túy có khối lượng còn lại là 0,5 gam heroine (Không phẩy năm) và 5,5 gam (năm phẩy năm) methamphetamine cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã đưa ma túy cho bị cáo Tang Thị X bán, qua điều tra chưa xác định được danh tính cụ thể. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào có kết quả sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tang Thị X: 07 (bảy) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 05/4/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và dấu điểm chỉ của Tang Thị X, bên trong chứa số ma túy có khối lượng còn lại là 0,5 gam (Không phẩy năm) heroine và 5,5 gam (năm phẩy năm) methamphetamine cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu.
(Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KS và Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Tang Thị X phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tang Thị X có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; [ơ - VKSND huyện KS; - Chi cục THADS huyện KS; - Công an huyện KS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vƣơng Hoàng Hào |