- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2019/HS-ST ngày 05/6/2019 của Toà án nhân dân thị xã B tỉnh Bình Dương về điều khoản áp d ng và hình ph t đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:130/2019/HS-PT Ngày: 15-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
- Th m phán thành viên: Bà Nguyễn Thị Sang;
Ông Trần Văn Luông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lữ Thị Lệ Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2019 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 144/2019/TLPT-HS ngày 15 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2019/HS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã B tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T sinh năm 1975 t i tỉnh Bến Tre; khẩu thường trú: Ấp 5 xã P huyện G tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị H sinh năm 1952; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H1 sinh năm 1974 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2001.
Tiền án:
- Bản án số 34/2015/HSST ngày 01/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre xử ph t bị cáo 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình ph t tù ngày 12/5/2017 và thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng vào ngày 11/8/2015.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án số 33/HSST ngày 11/8/1999 của Tòa án nhân dân huyện M tỉnh Bến Tre xử ph t bị cáo 15 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đo t tài sản của công dân”. Bị cáo đã chấp hành xong hình ph t tù; chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm dân sự sơ thẩm vào ngày 7/5/2015.
- Bản án số 28/2008/HSST ngày 17/4/2008 của Tòa án nhân dân Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình ph t tù ngày 29/4/2009 và thi hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước 370.000 đồng vào ngày 29/12/2008.
Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 13 tháng 12 năm 2018 chuyển t m giam từ ngày 22 tháng 12 năm 2018 cho đến nay.
Ngoài ra trong v án còn có bị h i người có quyền lợi nghĩa v liên quan nhưng không có kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T là đối tượng không nghề nghiệp không nơi cư trú ổn định thường xuyên đi lang thang nhiều tỉnh thành để tìm việc làm.
Khoảng 19 giờ ngày 09/12/2018 Nguyễn Văn T đi bộ t i khu vực cầu mới A, thành phố B tỉnh Đồng Nai thì nhìn thấy ông Danh T đang đứng bên đường cùng xe mô tô hiệu Wave màu xanh đen b c biển số 61N1-110.81. Nguyễn Văn T đi l i hỏi xin tiền của ông Danh T để bắt xe về quê ông Danh T không cho tiền mà dẫn Nguyễn Văn T vào một quán cháo gần đó cho Nguyễn Văn T ăn. Sau đó ông Danh T nói sẽ tìm việc làm cho Nguyễn Văn T và ch Nguyễn Văn T về phòng trọ của ông Danh T t i thành phố B tỉnh Đồng Nai ngủ.
Khoảng 16 giờ ngày 10/12/2018 ông Danh T điều khiển xe mô tô biển số 61N1-110.81 ch Nguyễn Văn T đến phòng trọ của b n ông Danh T tên Nguyễn Văn T thuộc nhà trọ của ông P1 t i ấp L, xã T thị xã B tỉnh Bình Dương để nhờ ông Thảo xin việc làm. Khoảng 19 giờ cùng ngày t i phòng trọ của ông Nguyễn Văn T, ông Danh T đưa cho Nguyễn Văn T 60.000 đồng và chìa khóa xe mô tô biển số 61N1-110.81 để Nguyễn Văn T đi mua thức ăn về uống rượu. Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 61N1-110.81 đi được khoảng 100 mét thì nảy sinh ý định chiếm đo t xe mô tô của ông Danh T bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 61N1-110.81ch y về chợ đầu mối Y, Thành phố Hồ Chí Minh gửi vào bãi giữ xe. Đến khoảng 14 giờ ngày 12/12/2018 Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 61N1-110.81 đến tiệm sửa xe t i địa chỉ số 285 Quốc lộ 1 khu phố 5 phường C quận Đ Thành phố Hồ Chí Minh của ông Nguyễn Xuân Đ yêu cầu bán xe với giá 3.000.000 đồng ông Nguyễn Xuân Đ hỏi giấy tờ xe thì Nguyễn Văn T nói không có. Khoảng 30 phút sau Công an phường C quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh đi tuần tra đến tiệm sửa xe của ông Nguyễn Xuân Đ, Công an yêu cầu Nguyễn Văn T xuất trình giấy tờ tùy thân và giấy chứng nhận đăng ký xe đối với xe mô tô biển số 61N1-110.81 thì Nguyễn Văn T thừa nhận xe do Nguyễn Văn T chiếm đo t xe của ông Danh T Công an phường C đã lập Biên bản ghi nhận sự việc Biên bản t m giữ đồ vật tài liệu liên hệ với Công an thị xã B và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát Điểu tra Công an thị xã B tỉnh Bình Dương th lý theo thẩm quyền.
T i Kết luận định giá tài sản ngày 14/12/2018 của Hội đồng định giá trong tố t ng hình sự thị xã B tỉnh Bình Dương kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh đen b c biển số 61N1-110.81 đã qua sử d ng trị giá 17.860.000 đồng.
Tài sản ông Danh T bị Nguyễn Văn T chiếm đo t là xe mô tô hiệu hiệu Honda Wave màu xanh đen b c biển số 61N1-110.81, xe này do bà Đỗ Thị N đứng tên Giấy chứng nhận đăng ký xe bà Đỗ Thị N cho ông mượn sử d ng để đi làm. Trong quá trình điều tra, bà Đỗ Thị N đã nhận l i tài sản do bị cáo Nguyễn Văn T chiếm đo t. Nay ông không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt h i gì liên quan đến xe mô tô biển số 61N1-110.81. Đối với số tiền 60.000 đồng ông đưa cho bị cáo đi mua thức ăn để uống rượu ông không yêu cầu bị cáo trả l i.
- Người có quyền lợi nghĩa v liên quan bà Đỗ Thị N khai nhận: Xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh đen b c biển số 61N1-110.81 là tài sản thuộc quyền s hữu của bà và do bà đứng tên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Trong quá trình điều tra bà đã nhận l i tài sản bị chiếm đo t. Nay bà không có ý kiến yêu cầu gì.
T i Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2019/HS-ST ngày 05/6/2019 của Toà án nhân dân thị xã B tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T ph m tội: “L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử ph t bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 13/12/2018.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng biện pháp tư pháp án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 18/6/2019 bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t.
T i phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đúng theo thời h n luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra xem xét theo thủ t c phúc thẩm là đúng theo thẩm quyền và quy định của pháp luật. T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi ph m tội như nội dung bản án sơ thẩm. Xét thấy, t i Bản án số 33/HSST ngày 11/8/1999 của Tòa án nhân dân huyện M tỉnh Bến Tre và Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2008/HSST ngày 17/4/2008 thì tài sản bị cáo chiếm đo t có giá trị dưới 2.000.000 đồng.Tuy bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 07/5/2015, nhưng áp d ng nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì án tích của bị cáo Nguyễn Văn T t i các Bản án hình sự sơ thẩm số 33/1999/HSST ngày 11/8/1999 và Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2008/HSST ngày 17/4/2008 thuộc vào trường hợp đương nhiên được xóa án tích. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 03 tiền án nên áp d ng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” để xét xử bị cáo theo quy định t i điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử ph t bị cáo 03 năm tù là chưa phù hợp với tính chất hành vi ph m tội của bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng áp d ng khoản 1 Điều 175 điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm hình ph t cho bị cáo và xử ph t bị cáo mức hình ph t từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được trông t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 10/12/2018 ông Danh T đưa cho bị cáo Nguyễn Văn T 60.000 đồng và chìa khóa xe mô tô biển số 61N1-110.81 để đi mua thức ăn về uống rượu. Khi đi trên đường Nguyễn Văn T có hành vi gian dối chiếm đo t xe mô tô biển số 61N1-110.81 để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến ngày 12/12/2018 bị cáo đã mang xe đi bán cho ông Nguyễn Xuân Đ t i phường C quận Đ Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không có giấy tờ xe nên bị Công an kiểm tra và bắt quả tang. T i Kết luận định giá tài sản ngày 14/12/2018 của Hội đồng định giá trong tố t ng hình sự thị xã B tỉnh Bình Dương kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh đen b c biển số 61N1-110.81 đã qua sử d ng trị giá 17.860.000 đồng.
Về xác định tiền án của bị cáo Nguyễn Văn T để xác định tình tiết định khung: Hội đồng xét xử xét thấy đối với Bản án số 33/HSST ngày 11/8/1999 của Tòa án nhân dân huyện M xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản c a công dân” bị cáo đã chấp hành xong hình ph t tù; chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm dân sự sơ thẩm vào ngày 7/5/2015. Theo quy định t i Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) thì tài sản bị chiếm đo t phải “từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây…” mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên theo như nội dung Bản án hình sự sơ thẩm số 33/HSST ngày 11/8/1999 của Tòa án nhân dân huyện M thì tài sản Nguyễn Văn T chiếm đo t có giá trị dưới 2.000.000 đồng. Ngoài ra t i Bản án số 28/2008/HS-ST ngày 17/4/2008 của Tòa án nhân dân Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh thì tài sản mà bị cáo chiếm đo t dưới 2.000.000 đồng. Do đó áp d ng quy định t i khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) về các tình tiết có lợi cho bị cáo áp d ng điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội (về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố t ng hình sự số 101/2015/QH13 luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 luật thi hành t m giữ t m giam số 94/2015/QH13) thì trường hợp của bị cáo Nguyễn Văn T thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích. Do đó bị cáo chỉ còn một tiền án t i Bản án số 34/2015/HSST ngày 01/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” là chưa chính xác. Trong v án này số tiền bị cáo chiếm đo t là 17.860.000 đồng do đó hành vi ph m tội của bị cáo chỉ cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định t i khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sẽ sửa điều khoản áp d ng với bị cáo Nguyễn Văn T cho đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình ph t: Hội đồng xét xử xét thấy sau khi ph m tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Như lập luận trên Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng quy định t i điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử ph t bị cáo mức hình ph t 03 năm tù là không tương xứng với mức độ hành vi ph m tội của bị cáo.
Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay l i ph m tội mới nên đây được xác định là tiền án là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định t i điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án hình sự sơ thẩm về áp d ng mức hình ph t đối với bị cáo.
Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc xét xử bị cáo khung hình ph t nhẹ hơn đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần ph m tội nên Hội đồng xét xử sẽ xử bị cáo với mức án cao hơn mức án mà đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã đề nghị nhằm m c đích giáo d c răn đe bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;
1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2019/HS-ST ngày 05/6/2019 của Toà án nhân dân thị xã B tỉnh Bình Dương về điều khoản áp d ng và hình ph t đối với bị cáo.
Áp d ng khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử ph t:
Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản” thời h n tù tính từ ngày 13/12/2018.
2/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Văn T không phải nộp.
3/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thị xã B; 2 - VKSND thị xã B; 1 - CC THADS thị xã B; 1 - Công an thị xã B; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Bị cáo; PC11- Công an tỉnh BD; 2 1 - PV06 - Lưu: HS Tổ HCTP. 2 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Đức |