- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Viết Th cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Viết Th, Trần Văn Gi, Trần Ngọc Tr, Nguyễn Tiến Ta, Phan Bình T, Mai Văn Th và Trần Quang H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 130/2018/HSST Ngày 06-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;
2. Bà Nguyễn Hồng Gấm.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ, Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 107/2018/ HSST ngày 24 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2018/HSST-QĐ ngày 24 tháng 5 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Viết Th, sinh năm 1996 tại tỉnh Đắc Lắk; thường trú: Số 52, thôn B, xã Kh Ng Đ, huyện Kr B, tỉnh Đắc Lắk; tạm trú: Số 24C/27 đường Ng Tr Ph, khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Huỳnh Văn Ch, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; có 05 anh chị ruột, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1987; có vợ tên Nguyễn Thị Khánh L, sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2018 đến ngày 21/01/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.
2. Trần Văn Gi, sinh năm 1996 tại tỉnh Đắc Lắk; thường trú: Số 42, thôn B, xã Kh Ng Đ, huyện Kr B, tỉnh Đắc Lắk; tạm trú: Số 425 đường Ng Tr Ph, khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn A, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; có 04 anh chị ruột, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2018 đến ngày 21/01/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.
3. Trần Ngọc Tr, sinh năm 1996 tại tỉnh Quảng Bình; thường trú: Thôn T X, xã Qu T, thị xã B Đ, tỉnh Quảng Bình; tạm trú: Số 4/73 khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Trần Văn L, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1973; có 06 em ruột, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2018 đến ngày 21/01/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.
4. Nguyễn Tiến Ta, sinh năm 1985 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm B, xã Qu G, huyện Qu L, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Số 51, đường MB, khu phố N, phường L X, quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1956 và bà Ngô Thị Th, sinh năm 1956; có 03 anh chị em ruột, lớn sinh năm 1978, nhỏ sinh năm 1987; có vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1986, có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2018 đến ngày 21/01/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.
5. Phan Bình T, sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Thuận; thường trú: Tổ B, khu phố H, phường Th H, thị xã B C, tỉnh Bình Dương; tạm trú: Số 161/13, đường MM, khu phố B, phường L X, quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Phan Duy L, sinh năm 1946 và bà Trần Thị M, sinh năm 1950; có 06 anh chị ruột, lớn sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2018 đến ngày 21/01/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.
6. Mai Văn Th, sinh năm 1987 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Thôn M, xã V Kh, huyện V L, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Số 20/46 khu phố B Đ 1, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Mai Văn L, sinh năm 1961 và bà Trần Thị H, sinh năm 1961; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 1989; có vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1994, có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2018 đến ngày 21/01/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.
7. Trần Quang H, sinh năm 1984 tại tỉnh Bình Thuận; thường trú: Thôn B Gi, xã Th H, huyện H T, tỉnh Bình Thuận; tạm trú: Số 17/20A khu phố B Đ 1, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Mong T, sinh năm 1956 và bà Trương Thị V, sinh năm 1965; có 07 chị em ruột, lớn sinh năm 1978, nhỏ sinh năm 1995; có vợ tên Nguyễn Thị Kim Á, sinh năm 1989, có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2018 đến ngày 21/01/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đỗ Văn Ng, sinh năm 1985; thường trú: Thôn B, xã H Th, thành phố B M Th, tỉnh Đắc Lắk; chỗ ở: Số 4/6 đường Ng Th Nh, khu phố Nh Đ 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Ông Võ Thành L, sinh năm 1984; chỗ ở: Khu phố B M 1, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 13/01/2018, Mai Văn Th, Trần Văn Gi, Nguyễn Tiến Ta, Trần Ngọc Tr đi đến quán cà phê “C Ch” thuộc khu phố Nh Đ 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương do Đỗ Văn Ng làm chủ và ngồi tại chòi số 05 để uống cà phê, trong lúc uống cà phê Tr nhìn thấy ở bàn uống cà phê có 01 bộ bài tây 52 lá nên Tr rủ Gi, Ta và Th chơi đánh bài cào tố liêng thắng thua bằng tiền. Hình thức mỗi ván đặt 20.000 đồng, tiền tố ít nhất là 20.000 đồng, cao nhất 200.000 đồng thì tất cả đồng ý. Sau đó Th, Gi, Ta và Tr lấy bài ra chơi. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì lần lượt có thêm Huỳnh Viết Th, Phan Bình T và một người đàn ông khác (không rõ nhân thân, lai lịch) chơi đánh bài cùng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày Trần Quang H cũng đến uống cà phê và xin vào đánh bài. Khi H vào chơi người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) bỏ đi còn lại Th, Gi, Ta, Tr, Th, T và H cùng chơi đánh bài. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày khi Th, Gi, Ta, Tr, Th, T và H đang đánh bài cào tố liêng thắng thua bằng tiền thì lực lượng Công an phường D A kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật số tiền trên chiếu bạc 440.000 đồng và 01 bộ bài tây 52 lá.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
- Mai Văn Th mang theo 1.600.000 đồng và sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thắng 2.040.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 3.620.000 đồng và trên chiếu bạc 20.000 đồng;
- Trần Văn Gi mang theo 1.600.000 đồng và sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thua 380.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 1.200.000 đồng và trên chiếu bạc 20.000 đồng;
- Trần Ngọc Tr, mang theo 700.000 đồng và sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thua 280.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 400.000 đồng và trên chiếu bạc 20.000 đồng;
- Huỳnh Viết Th mang theo 1.860.000 đồng và sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thua 780.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 780.000 đồng và trên chiếu bạc 120.000 đồng;
- Nguyễn Tiến Ta mang theo 1.770.000 đồng và sử dụng 500.000 đồng vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thắng 1.890.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 3.540.000 đồng và trên chiếu bạc 120.000 đồng;
- Phan Bình T mang theo 4.600.000 đồng và sử dụng 500.000 đồng vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thua 100.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 4.380.000 đồng và trên chiếu bạc 120.000 đồng;
- Trần Quang H mang theo 580.000 đồng và sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thắng 20.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 580.000 đồng và trên chiếu bạc 20.000 đồng
Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.570.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: Số tiền 9.570.000 đồng và 01 bộ bài tây 52 lá.
Đối với người đàn ông tham gia đánh bài thắng thua bằng tiền (không rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với ông Đỗ Văn Ng, chủ quán cà phê “C Ch” không biết các bị cáo đánh bài thắng thua bằng tiền tại quán cà phê của mình nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không đề cập xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 120/QĐ-VKS ngày 23/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Huỳnh Viết Th, Trần Văn Gi, Trần Ngọc Tr, Nguyễn Tiến T, Phan Bình T, Mai Văn Th và Trần Quang H phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo Trần Văn Gi, Trần Ngọc Tr, Mai Văn Th từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và các bị cáo Huỳnh Viết Th, Nguyễn Tiến Ta, Phan Bình T và Trần Quang H từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 09 giờ ngày 13/01/2018, Mai Văn Th, Trần Văn Gi, Nguyễn Tiến Ta, Trần Ngọc Tr đi đến quán cà phê “C Ch” thuộc khu phố Nh Đ 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương do Đỗ Văn Ng làm chủ và ngồi tại chòi số 05 để uống cà phê, trong lúc uống cà phê Tr nhìn thấy ở bàn uống cà phê có 01 bộ bài tây 52 lá nên Tr rủ Gi, Ta và Th chơi đánh bài cào tố liêng thắng thua bằng tiền. Hình thức mỗi ván đặt 20.000 đồng, tiền tố ít nhất là 20.000 đồng, cao nhất 200.000 đồng thì tất cả đồng ý. Sau đó Th, Gi, Ta và Tr lấy bài ra chơi. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì lần lượt có thêm Huỳnh Viết Th, Phan Bình T và một người đàn ông khác (không rõ nhân thân, lai lịch) chơi đánh bài cùng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày Trần Quang H cũng đến uống cà phê và xin vào đánh bài. Khi H vào chơi người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) bỏ đi còn lại Th, Gi, Ta, Tr, Th, T và H cùng chơi đánh bài. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày khi Th, Gi, Ta, Tr, Th, T và H đang đánh bài cào tố liêng thắng thua bằng tiền thì lực lượng Công an phường D A kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật số tiền trên chiếu bạc 440.000 đồng và 01 bộ bài tây 52 lá.
Quá trình điều tra xác định được như sau: Mai Văn Th mang theo 1.600.000 đồng và sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thắng 2.040.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 3.620.000 đồng và trên chiếu bạc 20.000 đồng; Trần Văn Gi mang theo 1.600.000 đồng và sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thua 380.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 1.200.000 đồng và trên chiếu bạc 20.000 đồng; Trần Ngọc Tr, mang theo 700.000 đồng và sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thua 280.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 400.000 đồng và trên chiếu bạc 20.000 đồng; Huỳnh Viết Th mang theo 1.860.000 đồng và sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thua 780.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 780.000 đồng và trên chiếu bạc 120.000 đồng; Nguyễn Tiến Ta mang theo 1.770.000 đồng và sử dụng 500.000 đồng vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thắng 1.890.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 3.540.000 đồng và trên chiếu bạc 120.000 đồng; Phan Bình T mang theo 4.600.000 đồng và sử dụng 500.000 đồng vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thua 100.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 4.380.000 đồng và trên chiếu bạc 120.000 đồng và Trần Quang H mang theo 580.000 đồng và sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Quá trình chơi thắng 20.000 đồng, khi bị bắt công an thu giữ trong người 580.000 đồng và trên chiếu bạc 20.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.570.000 đồng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, hành vi trên đây của các bị cáo Huỳnh Viết Th, Trần Văn Gi, Trần Ngọc Tr, Nguyễn Tiến Ta, Phan Bình T, Mai Văn Th và Trần Quang H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”.
Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Hành vi của các bị cáo Huỳnh Viết Th, Trần Văn Gi, Trần Ngọc Tr, Nguyễn Tiến Ta, Phan Bình T, Mai Văn Th và Trần Quang H đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào liêng tố thua bằng tiền nhằm mục đích tư lợi, sát phạt lẫn nhau là vi phạm pháp luật. Cáo trạng số 120/QĐ– VKS ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên truy tố các bị cáo Huỳnh Viết Th, Trần Văn Gi, Trần Ngọc Tr, Nguyễn Tiến Ta, Phan Bình T, Mai Văn Th và Trần Quang H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng, nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Xét đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Bị cáo Tr là người đề xướng, rủ rê còn các bị cáo còn lại là người trực tiếp đánh bài.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và công nhân lao động.
Về xử lý vật chứng: Xét số tiền 9.570.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước và 01 (một) bộ bài tây 52 lá các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông tham gia đánh bài thắng thua bằng tiền (không rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau và đối với ông Đỗ Văn Ng, chủ quán cà phê “C Ch” không biết các bị cáo đánh bài thắng thua bằng tiền tại quán cà phê của mình nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng. Xét vai trò, số tiền của các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Viết Th, Trần Văn Gi, Trần Ngọc Tr, Nguyễn Tiến Ta, Phan Bình T, Mai Văn Th và Trần Quang H phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Viết Th 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn Gi 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Tr 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Mai Văn Th 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Ta 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Phan Bình T 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Trần Quang H 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 9.570.000 (chín triệu năm trăm bảy mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 00771 ngày 18/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/4/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Huỳnh Viết Th, Trần Văn Gi, Trần Ngọc Tr, Nguyễn Tiến Ta, Phan Bình T, Mai Văn Th và Trần Quang H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bán; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (03); - Chi cục THA thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Người tham gia tố tụng (07); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - THA hình sự (04); - UBND xã, phường các bị cáo thường trú (07); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Ngọc Công |