- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn K - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn K (tên gọi khác: Bi) và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2018/HS-PT Ngày 16 tháng 11 năm 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.
Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Anh;
- Bà Lâm Vương Mỹ Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Biên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhơn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 155/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2018, đối với bị cáo Nguyễn Tấn K, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 185/2018/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Tấn K (tên gọi khác: B), sinh năm: 1980, tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Buôn bán cây cảnh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn N và bà Nguyễn Thị Lâm B; có vợ và có 02 người con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Không;
Bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 01 năm 2018.
Bị cáo đang bị tạm giam.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 20 tháng 01 năm 2018, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố N phối hợp với Công an xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tiến hành kiểm tra chỗ ở của Nguyễn Tấn K (thôn P, xã P, thành phố N), thu giữ: 01 bịch nilon khóa miệng chứa tinh thể màu trắng, 01 bịch nilon khóa miệng chứa 09 viên nén màu hồng, 01 bịch nilon khóa miệng chứa 02 viên nén màu xanh lá cây và 01 bịch nilon chứa 03 viên nén màu xanh dương. Quá trình điều tra xác định được: Ngày 17 tháng 11 năm 2018, Nguyễn Tấn K liên lạc với một nam thanh niên tên thường gọi là U (chưa rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) ma túy, gồm 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) thuốc lắc và 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) ma túy đá. U nhờ một nam thanh niên (không rõ lai lịch) mang ma túy đến nhà giao cho K. Sau khi có ma túy, K đã lấy một ít sử dụng cho bản thân, số còn lại K cất giữ để sử dụng thì bị bắt. Tại bản kết luận giám định số 96/GĐTP/2018 ngày 26 tháng 01 năm 2018, Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Các mẫu vật thu giữ của Nguyễn Tấn K là ma túy, gồm:
- 8,1995 gam (tám phẩy một chín chín năm gam) Methamphetamin.
- 3,5433 gam (ba phẩy năm bốn ba ba gam) MDMA. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 185/2018/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2018, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- Áp dụng Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn K 05 (năm) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo. Đối với người tên U đã bán ma túy cho K, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N tiếp tục xác minh làm rõ nhân thân, lai lịch xử lý sau. Ngày 31 tháng 8 năm 2018, bị cáo Nguyễn Tấn K kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm mức hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Tấn K kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo của bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tấn K đã khai nhận những hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng đã được thu giữ cùng với các chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy, đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 20 tháng 01 năm 2018, tại chỗ ở của Nguyễn Tấn K (thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa), Nguyễn Tấn K đã có hành vi tàng trữ 8,1995 gam (tám phẩy một chín chín năm gam) ma túy Methamphetamin và 3,5433 gam (ba phẩy năm bốn ba ba gam) ma túy MDMA. Hành vi đó của bị cáo đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[2.1]. Xem xét về việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo tàng trữ hai chất ma túy là Methamphetamin và MDMA có tổng khối lượng là 11,7428 gam (mười một phẩy bảy bốn hai tám gam), là thuộc trường hợp quy định tại Điểm n Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng cấp sơ thẩm lại áp dụng Điểm g Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo là không phù hợp. Tuy vậy, do Điểm g và Điểm n đều được quy định trong cùng Khoản 2 Điều 149 của Bộ luật Hình sự, nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại điều luật áp dụng cho bị cáo, đồng thời rút kinh nghiệm đối với Tòa án cấp sơ thẩm.
[2.2]. Về hình phạt của bị cáo:
Hành vi của bị cáo có tính nguy hiểm cao, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Vì vậy, cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã xem xét về nhân thân, tính chất mức độ phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, gồm: Nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, gia đình có truyền thống cách mạng. Quá trình tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, cấp phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo.
[3] Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 343; Điểm a Khoản 1 và Khoản 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn K (tên gọi khác: Bi) và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Áp dụng Điểm n Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn K (tên gọi khác: B),
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn K 05 (năm) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 01 năm 2018. 2. Bị cáo Nguyễn Tấn K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 16 tháng 11 năm 2018).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I – TANDTC; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Khánh Hòa; - TAND thành phố N; - VKSND thành phố N; - Công an thành phố N; - Nhà tạm giữ - Công an thành phố N; - Chi cục THA dân sự thành phố N; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thành Trung |