- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thanh H và đồng phạm đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2026/HSST Ngày: 27 - 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hoa
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Lâm
Ông Nguyễn Tường Lữ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST - HS ngày 30 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2026/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đặng Thanh H; tên gọi khác: Không; sinh năm 1975 tại tỉnh Phú Thọ; Số CCCD: 025075012xxx cấp ngày: 0x/5/2021; Nơi cấp: cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi cư trú: Khu 1x, xã VX, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Hữu L1 (đã chết) và bà Phạm Thị D, sinh năm 1942; Vợ: Phùng Thị Thanh X, sinh năm 1979; Con: Có 02 con (lớn nhất 22 tuổi, nhỏ nhất 16 tuổi).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Tại Bản án số 41, ngày 22/09/1998, Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, Lâm Đồng cũ xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Tháng 02/1999 đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
+ Tại Quyết định số 4605, ngày 26/12/2002 của UBND tỉnh Phú Thọ quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, mức 24 tháng. Chấp hành xong Quyết định ngày 02/01/2005.
+ Tại Bản án số 08, ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc.
+ Tại bản án số 36, ngày 09/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt H 6 tháng tù giam về tội Đánh bạc, tổng hợp hình phạt chung của bản án số 07 ngày 27/11/2020 nêu trên buộc H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 11 tháng 10 ngày tù. H đã chấp hành xong 02 bản án nêu trên ngày 05/6/2022.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/10/2025. (Có mặt).
2. Họ và tên: Vũ Tiến N; tên gọi khác: Không; sinh năm 1992 tại tỉnh Phú Thọ; Số CCCD: 02509213xxx cấp ngày: 0x/5/2021; Nơi cấp: cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi cư trú: Khu 1x, xã VX, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Quốc B, sinh năm 1970 và bà Đặng Thị Kim P, sinh năm 1971; Vợ: Tạ Thị Ánh H2, sinh năm 1993; con: Có 03 con, lớn nhất 11 tuổi, nhỏ nhất 3 tuổi.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 36, ngày 09/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt N 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 23/4/2022.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/10/2025. (Có mặt).
3. Họ và tên: Trần Văn L; tên gọi khác: Không; sinh năm 1976 tại tỉnh Phú Thọ; Số CCCD: 025076011xxx cấp ngày: 0x/5/2021; Nơi cấp: cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi cư trú: Khu 1x, xã VX , tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đình C (đã chết) và bà Đặng Thị T (đã chết); Vợ: Đặng Thị Thu Ph, sinh năm 1981; con: Có 02 con, lớn nhất 23 tuổi, nhỏ nhất 20 tuổi.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/10/2025. (Có mặt).
4. Họ và tên: Đặng Văn H1; tên gọi khác: Không; sinh năm 1975 tại tỉnh Phú Thọ; Số CCCD: 025075016xxx cấp ngày: 0x/5/2021; Nơi cấp: cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi cư trú: Khu 1x, xã VX , tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Lê L3 (đã chết) và bà Phan Thị Ch (đã chết); Vợ: Lê Thị Thanh H3, sinh năm 1978; con: Có 02 con, lớn nhất 27 tuổi, nhỏ nhất 22 tuổi.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/10/2025. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/10/2025, sau khi uống rượu ăn cơm trưa cùng nhau xong, các đối tượng Trần Văn L, Đặng Thanh H, Đặng Văn H1 và Vũ Tiến N đã rủ nhau về tại nhà ở của Trần Văn L, thuộc khu 1x, xã VX, tỉnh Phú Thọ để đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bài “Ba cây” sát phạt nhau bằng tiền. Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ (có sẵn ở nhà L) và ngồi trên chiếc chiếu mành cọ trên giường kê tại phòng khách nhà L để đánh bạc (Ngồi bên tay phải H là H1, bên tay trái là L và đối diện với H là N). Các đối tượng thống nhất hình thức đánh bạc cụ thể như sau: Sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 55 quân, sau đó loại bỏ các quân bài từ 10 đến K và 03 quân Joker, chỉ sử dụng các quân bài từ A (Át) đến 9. Ván đầu tiên, mỗi người chơi được chia 03 quân bài để tính điểm, người có tổng điểm cao nhất được cầm chương. Từ ván thứ hai trở đi, người cầm chương chia bài cho mỗi người chơi 03 quân bài. Người có tổng điểm 03 quân bài cao nhất sẽ được mỗi người chơi còn lại trả số tiền 100.000 đồng. Trường hợp người chơi có tổng điểm là 10 hoặc 20 điểm thì được mỗi người chơi còn lại trả số tiền 200.000 đồng và được tiếp tục cầm chương chia bài cho ván tiếp theo. Trường hợp có nhiều người cùng số điểm thì so sánh chất bài theo thứ tự từ cao xuống thấp là rô, cơ, tép, bích. Các đối tượng ngồi đánh bạc liên tục đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Công an xã Vạn Xuân phát hiện, kiểm tra. Khi lực lượng Công an vào kiểm tra, Đặng Văn H1 đang ngồi tại chiếu bạc, còn Trần Văn L, Đặng Thanh H và Vũ Tiến N cầm bài và tiền đánh bạc chạy vào gian phòng bên trong nhà Trần Văn L. Quá trình kiểm tra, Công an xã Vạn Xuân phát hiện tại vị trí trên chiếc chiếu mành cọ có 27 quân bài tú lơ khơ gồm các quân bài từ A đến 9; trong hộp đựng bài có 15 quân bài tú lơ khơ gồm các quân 10, J, Q, K và 03 cây Joker. Kiểm tra trên người các đối tượng phát hiện: Trần Văn L có 3.700.000 đồng và 03 quân bài tú lơ khơ trong túi quần; Đặng Văn H1 có 2.550.000 đồng và 03 quân bài tú lơ khơ giấu tại chỗ ngồi; Đặng Thanh H có 2.600.000 đồng trong túi quần; Vũ Tiến N có 2.600.000 đồng và 03 quân bài tú lơ khơ trong túi quần. Quá trình đấu tranh, các đối tượng khai nhận đã cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bài “Ba cây” sát phạt nhau bằng tiền. Công an xã Vạn Xuân đã lập biên bản sự việc, tạm giữ 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếc chiếu mành cọ và số tiền 11.450.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc.
Quá trình điều tra xác định: Khi bắt đầu tham gia đánh bạc Trần Văn L sử dụng số tiền 4.800.000 đồng, Đặng Thanh H sử dụng số tiền 3.000.000 đồng, Đặng Văn H1 sử dụng số tiền 2.150.000 đồng, Vũ Tiến N sử dụng số tiền 1.500.000 đồng. Do trong quá trình đánh bạc có việc thắng, thua nên số tiền thu giữ trên người từng bị cáo tại thời điểm kiểm tra có sự chênh lệch so với số tiền ban đầu từng đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc nhưng tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc và số tiền thu giữ trên người các đối tượng khi kiểm tra đều là 11.450.000đ. Vì vậy, xác định tổng số tiền các bị can dùng để đánh bạc là 11.450.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Xác minh tài sản xác định: Các bị cáo hiện đang sinh sống cùng gia đình, có tài sản chung vợ chồng là quyền sử dụng đất và không có tài sản riêng có giá trị. Riêng bị cáo N có 01 thửa đất số 118, tờ bản đồ số 05, diện tích 236m2 tại khu 10, xã Vạn Xuân. Các bị cáo đều là lao động tự do, có thu nhập trung bình khoảng 3.000.000 đồng/tháng.
Bản cáo trạng số 21/CT - VKS - KV4 ngày 27 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Phú Thọ truy tố các bị cáo Trần Văn L, Đặng Thanh H, Đặng Văn H1 và Vũ Tiến N tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Thanh H.
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Tiến N.
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn L, Đặng Văn H1.
* Tuyên bố các bị cáo Trần Văn L, Đặng Thanh H, Đặng Văn H1 và Vũ Tiến N phạm tội “Đánh bạc” .
* Xử phạt: Bị cáo Đặng Thanh H từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
* Xử phạt bị cáo Vũ Tiến N từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Tiến N cho UBND xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giáo dục bị cáo.
* Xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan tổ chức nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trần Văn L cho Ủy ban nhân dân xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Trần Văn L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Văn L.
Trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ, bị cáo Trần Văn L phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong một tuần.
* Xử phạt bị cáo Đặng Văn H1 từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan tổ chức nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Đặng Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Đặng Văn H1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Đặng Văn H1.
Trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ, bị cáo Trần Văn L phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong một tuần.
* Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng :
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 11.450.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) ;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 55 quân (gồm 52 quân bài và 03 quân Joker), đã cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ hộp đựng bài Tú lơ khơ đã cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu mành đã cũ, đã qua sử dụng.
* Về án phí: Các bị cáo Trần Văn L, Đặng Thanh H, Đặng Văn H1 và Vũ Tiến N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
2. Về nội dung:
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn L, Đặng Thanh H, Đặng Văn H1 và Vũ Tiến N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai nhận tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ 12 giờ 30 phút đến 13 giờ 10 phút ngày 25/10/2025, các đối tượng gồm: Trần Văn L, Đặng Thanh H, Đặng Văn H1 và Vũ Tiến N đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Ba cây” ăn tiền tại nhà ở của Trần Văn L, thuộc khu 9, xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ. Tổng số tiền các đối tượng đã sử dụng vào việc đánh bạc là 11.450.000đ đồng (Mười một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật. Hành vi đánh bạc của Trần Văn L, Đặng Thanh H, Đặng Văn H1 và Vũ Tiến N đã xâm phạm đến trật tự công cộng của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, là gốc rễ phát sinh những tệ nạn khác. Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Xét nhân thân, vài trò của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy rằng:
Về nhân thân: Bị cáo Đặng Thanh H đã nhiều lần bị xét xử, cụ thể: Tại Bản án số 41, ngày 22/09/1998, Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, Lâm Đồng cũ xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Tháng 02/1999 đã chấp hành xong toàn bộ bản án. Tại Quyết định số 4605, ngày 26/12/2002 của UBND tỉnh Phú Thọ quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, mức 24 tháng. Chấp hành xong Quyết định ngày 02/01/2005. Tại Bản án số 08, ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Sau đó, do H phạm tội trong thời gian chấp hành án nên tại bản án số 36, ngày 09/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt H 6 tháng tù giam về tội Đánh bạc, tổng hợp hình phạt chung của bản án số 07 ngày 27/11/2020 nêu trên buộc H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 11 tháng 10 ngày tù. H đã chấp hành xong 02 bản án nêu trên ngày 05/6/2022.
Bị cáo Vũ Tiến N đã một lần bị xét xử: Tại bản án số 36, ngày 09/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt N 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 23/4/2022.
Bị cáo Trần Văn L, Đặng Văn H1 là người có nhân thân tốt, chưa bị xét xử hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính.
Các bị cáo đều không có tiền án tiền sự.
Về vai trò của các bị cáo: Cả 4 bị cáo đều là người trực tiếp đánh bạc nên đều có vai trò là những người đồng thực hành về tội Đánh bạc. Đối với bị cáo Trần Văn L đã đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà mình và đồng ý cho các đối tượng sử dụng công cụ, phương tiện là bộ bài tú lơ khơ và chiếu mành cọ tại nhà ở của mình để đánh bạc nên bị cáo L còn giữ vai trò là đồng phạm giúp sức. Tuy nhiên đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự phân công bàn bạc cấu kết chặt chẽ trước và trong khi đánh bạc.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ”. Đối với bị cáo Đặng Thanh H và Vũ Tiến N mặc dù đã từng bị xét xử nhưng các bị cáo đã được xoá án tích nên áp dụng khoản 9, Điều 2, Nghị quyết số 04 ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì hai bị cáo vẫn được coi là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng .
Ngoài ra bị cáo Vũ Tiến N có ông nội là ông Vũ Ngọc H5 được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, huy chương chiến sỹ vẻ vang; bị cáo Trần Văn L có bố đẻ là ông Trần Đình C được Nhà nước tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì; bị cáo Đặng Văn H1 có bố đẻ là ông Đặng Lê L4 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến thắng hạng Hai, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba. Vì vậy các bị cáo Vũ Tiến N, Trần Văn L, Đặng Văn H1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính:
Xét thấy cần cách ly bị cáo Đặng Thanh H ra khởi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo.
Các bị cáo Vũ Tiến N, Trần Văn L, Đặng Văn H1 có nơi cư trú ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo Vũ Tiến N; áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Trần Văn L, Đặng Văn H1, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình quản lý trong thời gian chấp hành án là phù hợp. Do các bị cáo L, H1 là lao động tự do, thu nhập thấp, chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày, do vậy HĐXX miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung :
Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ.
Qua xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra thì các bị cáo hiện đang sinh sống cùng gia đình, có tài sản chung vợ chồng là quyền sử dụng đất và không có tài sản riêng có giá trị. Riêng bị cáo N có 01 thửa đất số 118, tờ bản đồ số 05, diện tích 236m2 tại khu 10, xã Vạn Xuân, thửa đất này là nơi ở duy nhất của gia đình bị cáo. Các bị cáo đều là lao động tự do, có thu nhập trung bình khoảng 3.000.000 đồng/tháng đủ bảo đảm cuộc sống tối thiểu hàng ngày, do vậy Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
Đối với số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đồng: 11.450.000đ (Mười một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó: Trần Văn L có 4.800.000đ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng); Đặng Thanh H có 3.000.000đ (Ba triệu đồng); Đặng Văn H1 có 2.150.000đ (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng); Vũ Tiến N có 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 55 quân (gồm 52 quân bài và 03 quân Joker), đã cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ hộp đựng bài Tú lơ khơ đã cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu mành đã cũ, đã qua sử dụng là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo Đặng Thanh H, Vũ Tiến N, Trần Văn L, Đặng Văn H1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Thanh H.
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Tiến N.
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn L, Đặng Văn H1.
* Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Thanh H, Vũ Tiến N, Trần Văn L, Đặng Văn H1 phạm tội “Đánh bạc”.
* Xử phạt: Bị cáo Đặng Thanh H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt Bị cáo Vũ Tiến N 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Tiến N cho UBND xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Xử phạt bị cáo Trần Văn L 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trần Văn L cho Ủy ban nhân dân xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Trần Văn L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Trần Văn L thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Văn L.
Trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ, bị cáo Trần Văn L phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong một tuần.
* Xử phạt bị cáo Đặng Văn H1 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Đặng Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Đặng Văn H1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Đặng Văn H1 thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Đặng Văn H1.
Trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ, bị cáo Đặng Văn H1 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong một tuần.
* Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Căn cứ khoản 1 Điều 125 Bộ luật hình sự: Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Vũ Tiến N, Đặng Văn H1, Trần Văn L.
* Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam đồng: 11.450.000đ (Mười một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) trong tài khoản tạm giữ số 3949.0.1054134.00000 của thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ mở tại kho bạc nhà nước khu vực VIII – Phòng kế toán ngày 31/5/2025
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 55 quân (gồm 52 quân bài và 03 quân Joker), đã cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ hộp đựng bài Tú lơ khơ đã cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu mành đã cũ, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao, nhận vật đồ vật, tài liệu, vật chứng chứng ngày 06/01/2026 )
* Về án phí:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Đặng Thanh H, Vũ Tiến N, Trần Văn L, Đặng Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 4 - Phú Thọ; - THAHS Công an tỉnh Phú Thọ; - VP CQ CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - Phòng THADS khu vực 4; - Các bị cáo; - UBND xã Vạn Xuân, tỉnh Phú Thọ; - Sở TP tỉnh Phú Thọ; - Lưu: HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thanh Hoa |