- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Tấn P - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 4 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA N NHÂN DÂN KH V C 8 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 13 /2026/HS-ST Ngày: 19-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NHÂN DÂN KH V C 8 - TH NH H H CH MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Thanh Thà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Long;
2. Ông Trần Văn Chon;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- i di n i n ki m s t nh n d n kh c - Thành ph Hồ h Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2026/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 158/2026/HSST-QĐ ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Tấn P, sinh năm 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh; căn cước công dân số: 0 9093011521, cấp ngày 13/12/2018 tại Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B V, ấp G, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số B V, ấp G, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn H (đã chết) và bà Huỳnh Thị Mỹ L, sinh năm 1963, bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2011; anh chị em ruột gồm 03 người kể cả bị cáo.
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 30/6/2023, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Tấn P, thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 111/QĐ-TA. Ngày 08/0 /2025, chấp hành xong Quyết định tại Cơ sở Cai nghiện Ma túy S1, tỉnh Đồng Nai.
- Ngày 1 /01/2023, Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 00008681/QĐ-XPHC về việc xử phạt Huỳnh Tấn P số tiền 4.000.000 đồng về hành vi tàng trữ vũ khí thô sơ, chưa nộp phạt.
Nhân thân: Ngày 11/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Huỳnh Tấn P 06 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 24 /2014/HSST. Ngày 23/12/2014, chấp hành xong hình phạt tù tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (này là Trại tạm giam C, Công an Thành phố H) và nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 01/8/201 .
Ngày 24/01/201 , Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Tấn P, thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 41/QĐ-TA. Ngày 19/11/2018, chấp hành xong Quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy Bảo trợ xã hội P.
Ngày 19/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Tấn P, thời hạn 21 tháng theo Quyết định số 21/QĐ-TA. Ngày 06/11/2022, chấp hành xong Quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy P1.
Bị cáo bị bắt từ ngày 31/10/2025 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI D NG VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Tấn Phát hiện đang là đối tượng quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 5 0/QĐ-UBND ngày 24/0 /2025 của Ủy ban nhân dân xã C, Thành phố H. Đến ngày 25/08/2025, P tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể, vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/8/2025, Huỳnh Tấn P đi đến khu vực Đường E thuộc ấp C, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh tìm gặp trực tiếp người tên “Vũ Khế” (kết quả xác minh có Đinh Văn V, sinh năm: 1989; Nơi thường trú: Số D đường L, ấp C, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh) mua được một gói nylon bên trong có chứa ma túy đá, với giá 200.000 đồng. Sau khi mua ma túy thì P cầm trong tay trái mang về nhà tại địa chỉ số B đường V, ấp G, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng một mình cho đến hết. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/08/2025, Công an xã C, Thành phố Hồ Chí Minh mời P về trụ sở làm việc. Tại đây, Công an xã C Trạm y tế Xã Củ Chi tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với P, kết quả P dương tính với ma túy, loại Methamphetamine và thu mẫu nước tiểu của P để trưng cầu giám định. Công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huỳnh Tấn P, tạm giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có ống thủy tinh dính tinh thể.
Ngày 24/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập được Đinh Văn V (sinh năm: 1989; Nơi thường trú: Số D đường L, ấp C, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh) đến trụ sở làm việc. V không thừa nhận đã bán ma túy cho Huỳnh Tấn P và không có chứng cứ nào khác ngoài lời khai của P.
Kết luận Giám định số 3966/KL-KTHS ngày 02/9/2025 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Dương Đức T1 (Điều tra viên) và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H bên trong có 01 hũ chứa nước tiểu (ký hiệu mẫu m) cần giám định, tìm thấy Methamphetamine.
Kết luận giám định số 3967/KL-KTHS ngày 02/9/2025 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Dương Đức T1 (Điều tra viên) và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H bên trong có 01 ống thủy tinh dính chất nghi vấn là ma túy (ký hiệu mẫu m1) cần giám định, không xác định được khối lượng, tìm thấy Methamphetamine ở dạng vết.
Quá trình điều tra, Huỳnh Tấn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vật chứng vụ án gồm: 01 gói niêm phong mang số vụ 3668/25 có chữ ký của Điều tra viên và Giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh).
Tại bản Cáo trạng số 20 /CT-VKSKV8 ngày 29/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử Huỳnh Tấn P về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 201 , sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo Huỳnh Tấn P đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 25/8/2025 tại nhà số B đường V, ấp G, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh và kết luận giám định tìm thấy Methamphetamine trong nước tiểu của bị cáo. Hành vi của bị cáo Huỳnh Tấn P đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 201 , sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 201 , sửa đổi bổ sung năm 2025 xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tấn P đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy mà còn tái nghiện, bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 25/8/2025 tại nhà số B đường V, ấp G, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh và kết luận giám định tìm thấy Methamphetamine trong nước tiểu của bị cáo. Bằng hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Tấn P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 201 , sửa đổi bổ sung năm 2025.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội. Tuy nhiên, cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 201 .
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp. [5] Về xử lý vật chứng: 01 gói niêm phong mang số vụ 3668/25 có chữ ký của Điều tra viên và Giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh), Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
[6] Đối với ma túy loại Methamphetamine do bị cáo mua vào ngày 25/8/2025 đã sử dụng hết, không xác định được khối lượng nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[ ] Đối với đối tượng Đinh Văn V không thừa nhận bán ma túy cho bị cáo Huỳnh Tấn P, không có chứng cứ chứng minh mà chỉ có lời khai của bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí, Lệ phí số 9 /2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
Q YẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 201 , sửa đổi bổ sung năm 2025.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tấn P 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2025.
2. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 4 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 201 ; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu và tiêu hủy gồm: 01 gói niêm phong mang số vụ 3668/25 có chữ ký của Điều tra viên và Giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh).
Các vật chứng trên được liệt kê tại Phiếu nhập kho vật chứng số 33/PNK-CSMT ngày 21/01/2026 và Lệnh nhập kho vật chứng số G684/LNK-CSMT ngày 19/01/2026 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và Lệ phí số 9 /2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Huỳnh Tấn P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:
Căn cứ Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 8; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Sở tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam Chí Hòa; - Bị cáo; Lưu: Vp, hồ sơ. | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM H N – CHỦ T A HI N TÒA Châu Thị Thanh Thà |