vanban.org

Bản án 13/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Cao Văn T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 16/4/2025). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2026/HS-ST
Ngày: 28 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bình.

2. Bà Bùi Thị Út.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Cao Văn T, sinh năm 1976 tại Ninh Thuận (nay là Khánh Hòa); Nơi thường trú: Tổ dân phố A, phường B, tỉnh Khánh Hòa. Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã X, tỉnh Khánh Hòa. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Đ (đã chết) và bà Phan Thị C (đã chết); có vợ tên Nguyễn Thị Thanh T1 và 02 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Năm 1994, bị Toà án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận (cũ) xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;

- Năm 1996, bị Toà án nhân dân thị xã Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận (cũ) xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;

- Ngày 25/8/1999, bị Tòa án nhân dân thị xã Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

- Ngày 03/7/1999, bị Tòa án nhân dân thị xã Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phan R - T, Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh K (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường B, tỉnh Khánh Hòa (có mặt).

+ Anh Ngô Văn H, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường P, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).

+ Anh Ngô Đức H1, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường P, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Anh Lâm T2, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Số B Y, phường P, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).

+ Ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Thôn L, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình xác minh về các đối tượng nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn phường P, tỉnh Khánh Hòa. Qua cung cấp thông tin của quần chúng nhân dân trong ngày 16/12/2024 và 17/12/2024, lực lượng Công an phát hiện:

Vào lúc 09 giờ 20 ngày 16/12/2024, tại nhà của Lâm T2 (sinh năm 1998, trú tại số B Yết K phường P, tỉnh Khánh Hòa) có một nhóm thanh thiếu niên tụ tập có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma tuý (Cỏ mỹ) gồm Nguyễn Văn S, sinh năm 1998, trú tại khu phố A, phường K, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường P, tỉnh Khánh Hòa); Ngô Văn H, sinh năm 1998, trú tại xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay xã A, tỉnh Khánh Hòa); Ngô Đức H1, sinh năm 1998, trú tại xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa và Lâm T2. Lực lượng Công an tiến hành tạm giữ: 05 gói thảo mộc nghi là ma túy được chứa trong bịch nylon kích thước 0,5x0,8 cm, 03 bật lửa gas, 01 cái kéo, 01 chai bằng bằng nhựa được độ chế thành dụng cụ để sử dụng ma tuý, 01 cái mâm kim loại kiểu dáng hình tròn có đường kính 50 cm và mời 04 đối tượng về trụ sở làm việc.

Ngày 17/12/2024, lực lượng Công an tiếp tục kiểm tra nơi cư trú đối tượng Ngô Văn H tại khu phố B, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường P, tỉnh Khánh Hòa). Tại thời điểm kiểm tra phát hiện có 03 đối tượng có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma tuý gồm: H, Lâm T2 và Ngô Đức H1. Lực lượng Công an tạm giữ: 01 túi zip bằng nylon, được hàn kín 03 đầu, 01 đầu có khoá kéo viền màu đỏ, kích thước 05x08 cm, bên trong chứa các chất lá màu xanh, nghi là ma túy; 01 vỏ chai nhựa, dạng hình trụ, chiều cao 31 cm, đường kính cổ chai 02 cm, đáy chai 05 cm, trong suốt, bên trên cổ chai có 01 viền màu đỏ bằng nhựa, được đục 01 lỗ ở thân chai; 01 vỏ chai nhựa, dạng hình trụ, chiều cao 32 cm, đường kính cổ chai 06 cm, bên trên thân chai có dán bìa nylon màu xanh “bìa V”, bên trên cổ chai có 01 viền màu trắng bằng nhựa, được đục 01 lỗ ở thân chai, tại vị trí lỗ đục có 01 ống nhựa chiều dài khoảng 07 cm; 01 hộp quẹt màu đỏ, bên trên có ký tự “BIC” và mời 03 đối tượng về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận mua ma túy của một người phụ nữ tên Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1978, trú tại phường B, tỉnh khánh Hòa, bà T1 bán hoa tươi tại chợ T4 (là vợ của Cao Văn T). Qua kiểm tra địa điểm bán hoa của T1, lực lượng Công an tiến hành thu giữ 05 bịch thảo mộc khô nghi là ma túy; Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Thanh T1, Cao Văn T tại thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay xã X, tỉnh Khánh Hòa) phát hiện 03 bịch nylon chứa thảo mộc khô nghi là ma túy. Lực lượng công an tiến hành niêm phong đồ vật, tài liệu và mời các đối tượng về làm việc.

Tại Bản kết luận giám định số 7780/KL - KTHS, 7781/KL-KTHS ngày 20/12/2024, 06/01/2025 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Thảo mộc khô đựng trong 05 gói nylon gửi đến giám định đều là ma túy, tổng khối lượng: 7,3828 gam, loại MDMB-BUTINACA. Các mẫu nước tiểu gửi đến giám định đều không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP đề ngày 25 tháng 8 năm 2022 và Nghị định số 90/2024/NĐ-CP đề ngày 17 tháng 7 năm 2024 sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy của Chính P. (các mẫu thu giữ tại nhà L vào ngày 16/12/2024).

Tại Bản kết luận giám định số 7838/KL - KTHS, 7839/KL - KTHS ngày 06/01/2025, 22/01/2025 Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh có kết luận: Thảo mộc khô đựng trong 01 gói nylon zip viền màu đỏ được niêm phong gửi đến giám định có chứa thành phần ma túy, loại MDMB-BUTINACA, khối lượng: 0,2106 gam (Mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định). Các mẫu nước tiểu gửi đến giám định đều không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP đề ngày 25 tháng 8 năm 2022 và Nghị định số 90/2024/NĐ-CP đề ngày 17 tháng 7 năm 2024 sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy của Chính P (M1 đã sử dụng hết trong quá trình giám định). (Các mẫu thu giữ tại nhà Ngô Văn H vào ngày 17/12/2024).

Ngày 25/2/2025 Cơ quan CSĐT Công an thành phố P - T có Công văn 126 về việc trao đổi thông tin. Trường hợp sử dụng ma túy loại MDMB-BUTINACA nhưng khi xét nghiệm nước tiểu lại không phát hiện ma túy không? Ngày 14/3/2025 Phân viện kỹ thuật hình sự tại TP . có công văn trả lời số 345 ngày 14/3/2025, như sau:

- Hầu hết các bộ xét nghiệm nhanh hiện nay (test nhanh nước tiểu, que thử ma túy) chỉ kiểm tra các nhóm chất phổ biến như THC, A, Methamphetamine, C1, O, B,…MDMB-BUTINACA là chất ma túy mới thuộc nhóm cần sa tổng hợp do có cấu trúc khác biệt nên không phát hiện được.

- Thời gian tồn tại của MDMB-BUTINACAtrong cơ thể người phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: liều lượng sử dụng, thời gian sử dụng, tần suất sử dụng, cơ địa của người sử dụng….Do MDMB-BUTINACA là một chất ma túy mới, thời gian tồn tại chính xác của nó trong cơ thể chưa được xác định rõ ràng.

- MDMB-BUTINACA được chuyển hóa trong cơ thể thành nhiều chất khác nhau, một số chất chuyển hóa có thể được bài tiết qua nước tiểu. Hiện tại, các nghiên cứu về chất chuyển hóa của MDMB-BUTINACA vẫn đang được tiến hành, thông tin còn hạn chế.

- Để phát hiện MDMB-BUTINACAvà các chất chuyển hóa của nó cần phải sử dụng các phương pháp phân tích hiện đại như Sắc ký lỏng ghép khối phổ (LC/MS/MS), S1 ký khí ghép khối phổ (GC/MS).

Ngày 12/02/2025 Cơ quan CSĐT Công an thành phố P - T Quyết định trưng cầu giám định số 193/QĐ-ĐCSKT-MT đối với mẫu vật là chất ma túy loại MDMB-BUTINACA (Theo kết luận giám định số 7780/KL- KTHS ngày 20/12/2024) tại V, Bộ C3. Ngày 17/02/2025 V, Bộ C3 có Công văn số 411/C09-TT2 về việc từ chối giám định do hiện nay, Cơ quan giám định chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-BUTINACA.

Tại Bản kết luận giám định số 1022/KL-KTHS ngày 26/02/2025 của V kết luận (thu giữ tại nhà Cao Văn T, Nguyễn Thị Thanh T1):

- Đều tìm thấy các chất ma túy MDMB-4en-PINICA, MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA trong mẫu thảo mộc đựng trong 03 bịch nylon có ghi chữ COFFEE gửi giám định. Tổng khối lượng mẫu thảo mộc là 505,18 gam. Tổng khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINICA trong 505,18 gam mẫu thảo mộc gửi giám định là 1,26 gam.

- V hiện chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA nên không xác định được khối lượng chất ma túy MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA trong các mẫu gửi đến giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 2509/KL - KTHS ngày 28/3/2025 của V kết luận (thu giữ tại tại tiệm bán hoa của Nguyễn Thị Thanh T1): Thảo mộc khô đựng trong 05 gói nylon gửi đến giám định đều tìm thấy chất ma túy, tổng khối lượng mẫu thảo mộc (thực vật) là: 9,529 gam, loại MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA. Không xác định được khối lượng chất ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA trong mẫu gửi giám định do V hiện tại chưa có mẫu chuẩn định lượng MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA.

Quá trình điều tra, Cao Văn T khai nhận Nguồn gốc số ma túy trên, T mua của 01 người (không rõ nhân thân, lai lịch) trên mạng Facebook về rồi chia thành nhiều bịch nhỏ (dạng bịch nylon) để bán kiếm lời, T chia cho T1 một ít để bán tại nơi T1 bán hoa ở chợ T4 và nói là thuốc Rê, có ai đến hỏi mua thì bán với giá 70.000 đồng đến 100.000 đồng/bịch. Đồng thời, T nói với các đối tượng thường mua ma túy (Cỏ mỹ) của T, khi nào cần mua để sử dụng thì tới chỗ bán hoa của T1 nói mua thuốc Rê thì sẽ có người bán. Cao Văn T đã bán ma túy (Cỏ mỹ) tổng cộng cho 3 người, 6 lần bán, cụ thể như sau:

- Bán ma túy cho Lâm T2, sinh năm 1998, trú tại phường P, tỉnh Khánh Hòa 02 lần:

+ Lần 1: Vào khoảng 08 giờ ngày 16/12/2024, T2 chạy đến (nơi Nguyễn Thị Thanh T1 bán hoa tươi) trước cổng chợ T4 thuộc phường B, tỉnh Khánh Hòa, gặp T1, T2 hỏi mua 500.000 đồng thuốc Rê (ma túy Cỏ Mỹ), T1 đồng ý bán. Trà đưa cho T2 05 bịch ma túy (Cỏ mỹ), T2 đưa cho Trà 500.000 đồng. Sau đó, T2 đem về nhà sử dụng cùng Nguyễn Văn S, Ngô Văn H, Ngô Đức H1.

+ Lần 2: Vào khoảng 08 giờ ngày 17/12/2024, cũng phương thức và địa điểm như trên T1 đã bán cho T2 02 bịch ma túy Cỏ M và thu của T2 số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T2 đem về nhà Ngô Văn H để sử dụng cùng Ngô Đức H1 và Ngô Văn H.

- Bán ma túy cho Huỳnh Văn M, sinh năm 1967, trú tại L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay phường Đ, tỉnh Khánh Hòa) 02 lần:

+ Lần 1: Vào ngày 09/01/2025, M đến nhà của Cao Văn T ở xã X, tỉnh Khánh Hòa, hỏi mua 50.000 đồng ma túy (Cỏ Mỹ), T đồng ý bán, nhưng hiện tại ở nhà T không có ma túy, nên T bảo M chạy ra chỗ T1 đang bán hoa ở chợ T4, nói mua thuốc Rê thì T1 đưa cho M. Tại chợ T4, T1 đưa cho M 01 bịch ma túy (C), M đưa cho T1 số tiền 50.000 đồng. Khi về thì T1 có nói lại với T là M có ra lấy thuốc Rê. Sau khi mua được ma túy thì M về sử dụng một mình tại nhà.

+ Lần 2: Vào ngày 12/01/2025, M có chạy xuống chợ T4 nơi Trà bán hoa để gặp T, M hỏi T mua 50.000 đồng ma túy T đồng ý, tại đây M đưa 50.000 đồng cho T, T bán một bịch ma túy cho M. Sau khi mua được ma túy thì M về sử dụng một mình tại nhà.

- Bán cho Phạm Minh T3 (sinh năm 1987, trú tại phường Đ, tỉnh Khánh Hòa) 02 lần:

+ Lần 1: Vào khoảng 11 giờ ngày 13/01/2025, T3 đến nhà T ở xã X, tỉnh Khánh Hòa hỏi mua 50.000 đồng ma túy. T đồng ý bán. Tại đây T3 đưa T 50.000 đồng, T bán một bịch ma túy cho T3. Sau khi mua được ma túy thì T3 về sử dụng một mình tại nhà.

Lần 2: Vào khoảng 12 giờ ngày 15/01/2025, cũng phương thức như trên, tại nhà T ở xã X, tỉnh Khánh Hòa, T đã bán ma túy cho T3, với số tiền 50.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì T3 về sử dụng một mình tại nhà. Cáo trạng số 21/CT-VKSKV5 ngày 22/12/2025 của Viện kiểm sát nhân khu vực 5 – Khánh Hòa truy tố bị cáo Cao Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Ngày 21/01/2026, Cao Văn T nộp (do Nguyễn Thị Thanh T1 nộp thay) 900.000 đồng tiền thu lợi bất chính theo Biên lai thu tiền số 0000163 ngày 21/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu và không có ý kiến, hay khiếu nại gì về kết luận giám định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Cao Văn T từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 16/4/2025).

* Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì thư được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Lê Kỳ K, Đoàn Vân N, Cao Văn T và dấu tròn đỏ của Công an xã X. Bên trong chứa 100 bịch nylon màu trắng dạng miệng khép dính, viền màu đỏ, chưa qua sử dụng.

+ 01 thùng catton bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (Thảo mộc khô) theo kết luận giám định số 1022/KL-KTHS ngày 26/02/2025 của V, Bộ C3. Có chữ ký Trương Mạnh C2, Hoàng Mạnh Q.

+ 01 phong bì màu trắng được niêm phong, gián giấy niêm phong trên giấy niêm phong có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Phước N1, Tô Trọng N2. Theo Kết luận giám định số 7780 ngày 20/12/2024.

+ 01 bì thư của V, Bộ C3; được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của V, Bộ C3, chữ ký họ tên Hoàng Mạnh Q, Phan Thị Thu H2; bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 2509/KL-KTHS.

+ 01 chai nhựa màu trắng, trên cổ chai có viền màu đỏ, giữa thân chai đục 01 lỗ gắn ống nhựa, 03 quẹt ga, 01 cây kéo.

+ 02 vỏ chai nước, 01 hộp quẹt được bỏ trong 01 bịch nylon được dán giấy niêm phong có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thiện A1, Phan Trường S2, Võ Đình H3, Lâm T2 và dấu tròn đỏ của Công an phường P.

+ 01 mâm kim loại hình tròn.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 bì thư được gián giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi họ tên Lê Kỳ K, Đoàn Vân N, Cao Văn T và dấu tròn đỏ của Công an xã X. Bên trong có 01 điện thoại di động màu xám đen, có sim số 0826331477, số IMEI 1: 860517061701308, IMEI 2: 860517061701316.

- Đối với 01 IPad màu hồng nhạt, Cơ quan điều tra thu giữ của Ngô Văn H, Ipad này của H dùng để chơi điện tử và lên mạng, không liên quan đến hành vi Mua bán, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho Ngô Văn H.

- Đối với 01 xe máy biển số 59N1-68876 tạm giữ của Ngô Đức H1, số máy HC12E5122080, số khung không tìm thấy. Quá trình điều tra, chưa xác minh, làm rõ về xe, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để điều tra, xử lý sau là có căn cứ.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 900.000 đồng bị cáo Cao Văn T đã nộp vào ngày 21/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa để đảm bảo cho việc thi hành án.

* Về các nội dung khác:

- Đối với hành vi của Nguyễn Thị Thanh T1, quá trình điều tra xác định: Trà là vợ của Cao Văn T, bản thân bị cụt cả hai chân làm nghề bán hoa trong chợ T4, được chồng mua ma túy (Cỏ Mỹ) về bán, nhưng lúc giao cho T1 bán, T chỉ nói là thuốc Rê nên T1 chỉ biết là thuốc rê, không biết đó là chất ma túy (Cỏ Mỹ) nên khi bán cho khách thì T1 cũng nói là thuốc rê. Nên chưa có căn cứ để xác định đồng phạm với T về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý T1 là có căn cứ.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Cao Văn T, Ngô Văn H, L, Ngô Đức H1, Nguyễn Văn S, Quá trình xét nghiệm nhanh nước tiểu cho kết quả âm tính. Các mẫu nước tiểu của H, T2, H1, S gửi đến giám định đều không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP đề ngày 25 tháng 8 năm 2022 và Nghị định số 90/2024/NĐ-CP đề ngày 17 tháng 7 năm 2024 sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy của Chính P. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

- Đối với nhóm của Ngô Văn H, Lâm T2, Ngô Đức H1, có dấu hiệu của tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong ngày 16/12/2024 và ngày 17/12/2024. Quá trình điều tra, thu mẫu nước tiểu của các đối tượng trên để xét nghiệm chất ma túy tại Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh (C09B) - Bộ C3, kết quả trả lời: Que test nhanh nước tiểu, que thử ma túy không phát hiện được ma túy trong nước tiểu của các đối tượng gửi giám định, vì chất ma túy MDMB-BUNITACA là chất ma túy mới thuộc nhóm cần sa tổng hợp có cấu trúc khác biệt nên không phát hiện được. Quá trình điều tra các đối tượng đã thừa nhận hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của mình, nhưng kết quả giám định nước tiểu không phát hiện chất ma túy. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi để làm rõ về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.

- Đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Lâm T2, Cơ quan CSĐT đã tách tài liệu có liên quan đến hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” để tiếp tục xác minh xử lý là phù hợp.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình, trình độ nhận thức pháp luật để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N (nay là Công an tỉnh K), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngô Văn H, Ngô Đức H1 và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, không ai đề nghị hoãn phiên tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong tháng 12/2024 đến tháng 01/2025, trên địa bàn phường B, tỉnh Khánh Hòa, Cao Văn T đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, là Thảo mộc khô có chứa chất ma túy MDMB-BUTINACA, MDMB-4en-PINICA và MDMB-INACA, bán cho Lâm T2, Huỳnh Văn M và Phạm Minh T3, tổng cộng 6 lần, với số tiền 900.000 đồng. Số lượng Thảo mộc có chứa chất ma túy mà Cao Văn T tàng trữ để bán, có tổng khối lượng là 505,18 gam và 9,529 gam, loại MDMB-BUTINACA, MDMB-4en-PINICA và MDMB-INACA. V hiện chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA nên không xác định được khối lượng chất ma túy MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA trong các mẫu gửi đến giám định.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa truy tố bị cáo Cao Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: MDMB-BUTINACA, MDMB-4en-PINICA và MDMB-INACA là các chất ma túy nằm trong danh mục các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Do đó, hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hết sức nguy hiểm không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị Tòa án có thẩm quyền xử phạt tù tuy nhiên các hành vi vi phạm của bị cáo xảy ra đã lâu. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự thú ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy (cỏ mỹ); hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị cáo bị tai nạn, tàn tật, tàn phế hai chân; bị cáo đã tác động gia đình nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang bị tạm giam và không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- Đối với các vật chứng:

+ 01 bì thư được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Lê Kỳ K, Đoàn Vân N, Cao Văn T và dấu tròn đỏ của Công an xã X. Bên trong chứa 100 bịch nylon màu trắng dạng miệng khép dính, viền màu đỏ, chưa qua sử dụng;

+ 01 thùng catton bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (Thảo mộc khô) theo kết luận giám định số 1022/KL-KTHS ngày 26/02/2025 của V, Bộ C3. Có chữ ký Trương Mạnh C2, Hoàng Mạnh Q; 01 phong bì màu trắng được niêm phong, gián giấy niêm phong trên giấy niêm phong có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Phước N1, Tô Trọng N2. Theo Kết luận giám định số 7780 ngày 20/12/2024;

+ 01 bì thư của V, Bộ C3; được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của V, Bộ C3, chữ ký họ tên Hoàng Mạnh Q, Phan Thị Thu H2; bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 2509/KL-KTHS;

+ 01 chai nhựa màu trắng, trên cổ chai có viền màu đỏ, giữa thân chai đục 01 lỗ gắn ống nhựa; 03 quẹt ga, 01 cây kéo;

+ 02 vỏ chai nước, 01 hộp quẹt được bỏ trong 01 bịch nylon được dán giấy niêm phong có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thiện A1, Phan Trường S2, Võ Đình H3, Lâm T2 và dấu tròn đỏ của Công an phường P;

+ 01 mâm kim loại hình tròn.

Đây là các vật chứng, tang vật có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên phải tịch thu tiêu hủy.

- Đối với: 01 bì thư được gián giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi họ tên Lê Kỳ K, Đoàn Vân N, Cao Văn T và dấu tròn đỏ của Công an xã X. Bên trong có 01 điện thoại di động màu xám đen, có sim số 0826331477, số IMEI 1: 860517061701308, IMEI 2: 860517061701316. Đây là phương tiện, bị cáo dùng để trao đổi, giao dịch mua bán ma túy, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 IPad màu hồng nhạt, Cơ quan điều tra thu giữ của Ngô Văn H, Ipad này của H dùng để chơi điện tử và lên mạng, không liên quan đến hành vi Mua bán, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho Ngô Văn H.

- Đối với 01 xe máy biển số 59N1-68876 tạm giữ của Ngô Đức H1, số máy HC12E5122080, số khung không tìm thấy. Quá trình điều tra, chưa xác minh, làm rõ về xe, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để điều tra, xử lý sau là có căn cứ.

- Bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là 900.000 đồng nên buộc bị cáo phải nộp để sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 900.000 đồng bị cáo Cao Văn T đã nộp vào ngày 21/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về các nội dung khác có liên quan:

- Đối với hành vi của Nguyễn Thị Thanh T1, quá trình điều tra xác định: Trà là vợ của Cao Văn T, bản thân bị tàn phế, cụt cả hai chân, làm nghề bán hoa trong chợ T4, được chồng mua ma túy (Cỏ Mỹ) về bán. Khi giao cho T1 bán, T chỉ nói là thuốc rê nên T1 chỉ biết là thuốc rê, không biết đó là chất ma túy (Cỏ Mỹ) nên khi bán cho khách thì T1 cũng nói là thuốc rê. Trong các lần mua ma túy (Cỏ Mỹ) từ Trà thì Lâm T2, Huỳnh Văn M cũng chỉ yêu cầu Trà bán thuốc rê. Nên chưa có căn cứ để xác định T1 đồng phạm với T về tội mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý T1 là có căn cứ.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Cao Văn T, Ngô Văn H, L, Ngô Đức H1, Nguyễn Văn S, Quá trình xét nghiệm nhanh nước tiểu cho kết quả âm tính. Các mẫu nước tiểu của H, T2, H1, S gửi đến giám định đều không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP đề ngày 25 tháng 8 năm 2022 và Nghị định số 90/2024/NĐ-CP đề ngày 17 tháng 7 năm 2024 sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy của Chính P. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

- Đối với nhóm của Ngô Văn H, Lâm T2, Ngô Đức H1, có dấu hiệu của tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong ngày 16/12/2024 và ngày 17/12/2024. Quá trình điều tra, thu mẫu nước tiểu của các đối tượng trên để xét nghiệm chất ma túy tại Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh (C4), Bộ C3 kết quả trả lời: Que test nhanh nước tiểu, que thử ma túy không phát hiện được ma túy trong nước tiểu của các đối tượng gửi giám định, vì chất ma túy MDMB-BUNITACA là chất ma túy mới thuộc nhóm cần sa tổng hợp có cấu trúc khác biệt nên không phát hiện được. Quá trình điều tra các đối tượng đã thừa nhận hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của mình, nhưng kết quả giám định nước tiểu không phát hiện chất ma túy. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi để làm rõ về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lâm T2, Cơ quan CSĐT đã tách tài liệu có liên quan đến hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” để tiếp tục xác minh xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Cao Văn T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 16/4/2025).

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bì thư được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Lê Kỳ K, Đoàn Vân N, Cao Văn T và dấu tròn đỏ của Công an xã X. Bên trong chứa 100 bịch nylon màu trắng dạng miệng khép dính, viền màu đỏ, chưa qua sử dụng;

+ 01 (một) thùng catton bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (Thảo mộc khô) theo kết luận giám định số 1022/KL-KTHS ngày 26/02/2025 của V, Bộ C3. Có chữ ký Trương Mạnh C2, Hoàng Mạnh Q;

+ 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong, gián giấy niêm phong trên giấy niêm phong có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Phước N1, Tô Trọng N2. Theo Kết luận giám định số 7780 ngày 20/12/2024;

+ 01 (một) bì thư của V, Bộ C3; được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của V, Bộ C3, chữ ký họ tên Hoàng Mạnh Q, Phan Thị Thu H2; bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 2509/KL-KTHS;

+ 01 (một) chai nhựa màu trắng, trên cổ chai có viền màu đỏ, giữa thân chai đục 01 lỗ gắn ống nhựa, 03 (ba) quẹt ga, 01 (một) cây kéo;

+ 02 (hai) vỏ chai nước, 01 (một) hộp quẹt được bỏ trong 01 bịch nylon được dán giấy niêm phong có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thiện A1, Phan Trường S2, Võ Đình H3, Lâm T2 và dấu tròn đỏ của Công an phường P;

+ 01 (một) mâm kim loại hình tròn.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 bì thư được gián giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi họ tên Lê Kỳ K, Đoàn Vân N, Cao Văn T và dấu tròn đỏ của Công an xã X. Bên trong có 01 điện thoại di động màu xám đen, có sim số 0826331477, số IMEI 1: 860517061701308, IMEI 2: 860517061701316.

- Trả lại cho Ngô Văn H: 01 IPad màu hồng nhạt, có chữ ký của Ngô Văn H (không kiểm tra tình trạng bên trong).

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày16/ 01/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Khánh Hòa).

- Tiếp tục tạm giữ để điều tra, xử lý 01 xe máy biển số 59N1-68876 tạm giữ của Ngô Đức H1, số máy HC12E5122080, số khung không tìm thấy.

- Buộc bị cáo Cao Văn T phải nộp 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) bị cáo Cao Văn T đã nộp (do Nguyễn Thị Thanh T1 nộp thay) theo Biên lai thu tiền số 0000163 ngày 21/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Cao Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28 - 01

- 2026); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Khánh Hòa;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND khu vực 5;

- Công an tỉnh Khánh Hòa;

- Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa;

- Phòng PV 06 Công an tỉnh Khánh Hòa;

- Các bị cáo;

- Người có qlnvlq;

- Lưu án văn, hồ sơ./.

Phạm Thị Dung

Cỡ chữ