vanban.org

Bản án 13/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Công Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Công Đ 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2026/HS - ST ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo Hồ Công Đ phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 08 (Tám) năm tù. Thời h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Công Đ - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Công Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – ĐẮK LẮK
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2026/HS-ST
Ngày 31/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Oanh.

Bà Nguyễn Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hòa Bình – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4

- Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2026/TLST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2026. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Công Đ; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07/6/1991; Nơi sinh: Đắk Lắk; HKTT: Thôn P, xã K, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Hồ Đắc N, sinh năm 1963 và bà Phan Thị H, sinh năm 1967; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Phương U, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 56/2016/HS-ST ngày 09/09/2016, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt bị cáo 07 năm tù theo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 05/02/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích; Tại Bản án số 15/2026/HS-ST ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk tuyên xử Hồ Công Đ 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đắk Lắk từ ngày 24/6/2025 đến nay, bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1997.

+ Ông Trần Văn L, sinh năm 1987.

Cùng địa chỉ: Số 02 P, thôn P, xã K, tỉnh Đắk Lắk.

Đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/6/2025 tại số nhà 02 đường P, tổ dân phố 9, xã K, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn P, xã K, tỉnh Đắk Lắk) của chị Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1997. Tổ công tác thuộc Đội 2 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh Đắk Lắk phối hợp cùng Công an xã Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk kiểm tra phát hiện bắt quả tang Hồ Công Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại nền nhà tắm 01 túi nylon trong suốt dạng túi Zip bên trong có các hạt chất rắn dạng tinh thể và trong ví của Đ 01 gói nylon trong suốt dạng túi Zip bên trong có chứa chất bột màu xanh cùng một gói nylon nhỏ hơn chứa chất bột màu trắng. Đ khai nhận 02 gói nêu trên là ma tuý đá và ma tuý tổng hợp của Đ, khi phát hiện thấy lực lượng Công an nên Đ đã mang gói ma tuý đá chạy vào nhà tắm cất giấu nhằm tránh sự phát hiện của Cơ quan Công an. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hồ Công Đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý và thu giữ toàn bộ tang vật để xử lý theo quy định của pháp luật.

Khám xét khẩn cấp tại số nhà 02 đường Phan Huy Chú, Cơ quan Công an phát hiện thu giữ tại khu vực bếp có 01 áo khoác màu đen, lưng áo khoác có chữ Cbristian Dior - 1947 - AVE MONTAIGNE 8EME có 01 khẩu súng ngắn, bằng kim loại, kiểu ổ đạn quay, thân bên trái có khắc chữ SMITH & WESSON, thân bên phải có khắc chữ NOSEW & HTIMS; kích thước: chiều dài 20cm, chiều cao 14,5cm; bên trong ổ quay có 06 viên kim loại hình trụ giống viên đạn có một đầu màu xám và một đầu màu vàng, kích thước: Dài 2,5cm, đường kính 0,7 cm. Hồ Công Đ khai khẩu súng và đạn là của Đ dùng để phòng thân. Cơ quan Công an đã lập biên bản để xử lý theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 1142/KL-KTHS ngày 30/06/2025, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận:

Phong bì thư ký hiệu M1: Các hạt chất rắn dạng tinh thể bên trong 01 (một) túi nylon dạng túi Zip được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 8,0358 gam.

Phong bì thư ký hiệu M2: Chất bột màu xanh bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại: MDMA, khối lượng 0,2079 gam; Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại: Ketamine, khối lượng 0,0642 gam.

Mẫu vật còn lại sau giám định: Phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 7,9626 gam; Phong bì thư ký hiệu M2: chất bột màu xanh có khối lượng 0,1831gam, chất bột màu trắng có khối lượng 0,0447 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật niêm phong gửi giám định ban đầu.

Cáo trạng số: 17/CT-VKS-HS ngày 27/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk truy tố bị cáo Hồ Công Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra, phân tích nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hồ Công Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Công Đ từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2025.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp với hình phạt của bản án hình sự số 15/2026/HS-ST ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 7,9626 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 Phong bì thư ký hiệu M2: chất bột màu xanh có khối lượng 0,1831 gam ma túy loại MDMA, chất bột màu trắng có khối lượng 0,0447 gam ma túy loại Ketamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật niêm phong gửi giám định ban đầu; 02 (hai) sim điện thoại Vinaphone số 0941563573 và 0944845253, Hồ Công Đ sử dụng để liên lạc với Phạm Thị Vân Anh mua chất ma túy;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy Note20 Ultra, số Imel 355857117772271; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imel 350077081220034.

Đối với 01 (một) khẩu súng ngắn ổ quay (Rulo) bằng kim loại màu trắng có số hiệu SMITH & WESSON - NOSEW & HTIMS - ZP5 và 06 (sáu) viên đạn có một đầu màu vàng xám có cùng kích thước và số hiệu “SB”, đã được xử lý tại Bản án số 15/2026/HS - ST ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk nên không đề cập để xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.

Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 24/6/2025, tại nhà số 02, đường P, tổ dân phố 9, xã K, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn P, xã K, tỉnh Đắk Lắk), Tổ công tác thuộc Đội 2 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh Đắk Lắk phối hợp cùng Công an xã Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk phát hiện và bắt quả tang Hồ Công Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép 8,0358 gam ma túy loại Methamphetamine; 0,2079 gam ma tuý, loại: MDMA; 0,0642 gam ma tuý, loại: Ketamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm e đến điểm m khoản này;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, hoàn toàn nhận thức được tính nguy hiểm của ma túy và tác hại của ma túy nhưng do ý thức coi thường pháp luật, coi thường các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy và để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép phép 8,0358 gam ma túy loại Methamphetamine; 0,2079 gam ma tuý, loại: MDMA; 0,0642 gam ma tuý, loại: Ketamine.

Bị cáo có nhân thân xấu, tại bản án số 56/2016/HS-ST ngày 09/09/2016 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 05/02/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Đối với Phạm Thị Vân A đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Hồ Công Đ tại nhà của Phạm Thị Vân A tại thôn 8, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Hiện nay Phạm Thị Vân A đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk khởi tố theo Quyết định khởi tố bị can số 482 ngày 18/06/2025 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự trong một vụ án khác. Ngày 26/06/2025, Phạm Thị Vân A bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Hiện Phạm Thị Vân A bị truy nã theo Quyết định truy nã số 8020 ngày 20/08/2025, đến thời điểm hiện tại Phạm Thị Vân Anh vẫn chưa ra đầu thú hay bị bắt giữ. Căn cứ vào lời khai, dữ liệu sao kê số tài khoản ngân hàng của bị cáo Hồ Công Đ và các tài liệu chứng cứ khác, xét thấy chưa đủ căn cứ để xử lý Phạm Thị Vân A về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk ra quyết định tách hành vi của Phạm Thị Vân A ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý theo quy định của Pháp luật.

- Đối với người đàn ông có tên Vương Đình H là người đưa gói ma túy đá cho Hồ Công Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch của Vương Đình H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định tách hành vi của Vương Đình H cùng Phạm Thị Vân A theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 696/QĐ - CSMT ngày 19/01/2026 để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với người thanh niên có tên “Cu T”, Hồ Công Đ có nhờ Thạch chuyển tiền cho Phạm Thị Vân A nhưng Thạch chưa chuyển tiền và Đ cũng không nói Thạch chuyển tiền cho Phạm Thị Vân A để làm gì. Hiện nay chưa xác định được “Cu T” đang ở đâu nên tiếp tục xác minh làm rõ đối với người có tên “Cu T”.

- Đối với Trần Văn L và Nguyễn Thị Ngọc B là người thuê căn nhà tại số 02 đường P, tổ dân phố 9, thị trấn P, huyện K (nay là thôn P, xã K, tỉnh Đắk Lắk): Hồ Công Đ đi đến nhà nơi L và B thuê để khất nợ, khi vào nhà Đ đã đi ra phòng tắm ở phía cuối của căn nhà và cất giấu gói nylon chứa ma túy đá, sau đó cởi áo khoác bên trong có khẩu súng để ở khu vực bếp. Việc Hồ Công Đ tàng trữ trái phép chất ma túy và vũ khí quân dụng thì Trần Văn L, Nguyễn Thị Ngọc B không hề biết nên không xem xét xử lý hình sự đối với Trần Văn L, Nguyễn Thị Ngọc B.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép quân dụng, ngày 02/02/2026, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tuyên xử Hồ Công Đ 01 năm 06 tháng tù tại Bản án số 15/2026/HS - ST của TAND tỉnh Đắk Lắk nên không đề cập để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 7,9626 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 Phong bì thư ký hiệu M2: chất bột màu xanh có khối lượng 0,1831 gam ma túy loại MDMA, chất bột màu trắng có khối lượng 0,0447 gam ma túy loại Ketamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật niêm phong gửi giám định ban đầu; 02 (hai) sim điện thoại Vinaphone số 0941563573 và 0944845253, Hồ Công Đ sử dụng để liên lạc với Phạm Thị Vân A mua chất ma túy;

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy Note20 Ultra, số Imel 355857117772271; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imel 350077081220034.

- Đối với 01 khẩu súng ngắn ổ quay (Rulo) bằng kim loại màu trắng có số hiệu SMITH & WESSON - NOSEW & HTIMS - ZP5 và 06 viên đạn có một đầu màu vàng xám có cùng kích thước và số hiệu “SB” đã được xử lý tại Bản án số 15/2026/HS - ST ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk nên không đề cập để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Công Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Công Đ 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt với hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2026/HS - ST ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk. Buộc bị cáo Hồ Công Đ phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 7,9626 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 Phong bì thư ký hiệu M2: chất bột màu xanh có khối lượng 0,1831 gam ma túy loại MDMA, chất bột màu trắng có khối lượng 0,0447 gam ma túy loại Ketamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật niêm phong gửi giám định ban đầu; 02 (hai) sim điện thoại Vinaphone số 0941563573 và 0944845253.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy Note20 Ultra, số Imel 355857117772271; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imel 350077081220034.

(Đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/3/2026).

3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hồ Công Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ