vanban.org

Bản án 13/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; khoản 4 Điều 147; Điều 177; điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, …

Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị A được ly hôn anh Quách Văn T . Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị A ly hôn anh T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; khoản 4 Điều 147; Điều 177; điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, …
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2026/HNGĐ-ST
Ngày 30 /01 /2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thư

Bà Nguyễn Thị Tường Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Tư – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 91/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2026/QĐST – HNGĐ ngày 16/01/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị A - sinh ngày 25/5/1996

Số Căn cước: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh T.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Quách Văn T T - sinh ngày 05/02/1994

Số căn cước: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh T.

Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/11/2025, bản tự khai và quá trình giải quyết tại Toà án nguyên đơn chị Hà Thị A trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Hà Thị A và anh Quách Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh T (nay là UBND xã T, tỉnh T) vào ngày 23/11/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nguyên nhân: Do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống cũng như trong công việc làm ăn. Nay chị A xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm đến nhau nữa nên chị A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Quách Văn T .

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là: Quách Hà Thị An N - sinh ngày 11/3/2016 (giới tính: Nữ) và Quách Như Q – sinh ngày 19/01/2018 (giới tính: Nữ). Hiện nay các cháu phát triển bình thường về thể lực và trí lực. Lâu nay vợ chồng đi làm ăn xa nên cả hai con phải nhờ ông bà nội là ông Quách Văn B và bà Bùi Thị V (bố mẹ đẻ anh T ) trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị A và anh T đều gửi tiền về để nhờ bố mẹ nuôi con giúp. Chị A làm nghề tự do tại Thành phố H, công việc và thu nhập ổn định, mức thu nhập mỗi tháng từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; Anh T làm nghề gì, thu nhập như thế nào chị A không nắm được.

Khi ly hôn chị A đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu N; giao cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Q đến khi các con đủ tuổi thành niên. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng tự thoả thuận nên chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Quách Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo nên Tòa án không thu thập được nguyện vọng của anh Quách Văn T .

Tại Biên bản xác minh ngày 05/12/2025, UBND xã T, tỉnh T nơi chị A và anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú cho biết: Chị Hà Thị A và anh Quách Văn T có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh T (nay là UBND xã T, tỉnh T) vào ngày 23/11/2015. Sau khi kết hôn chị A và anh sinh sống tại thôn T. Chị A và anh T thường xuyên đi làm ăn xa nên chính quyền địa phương cũng không nắm được nguyên nhân vợ chồng chị A, anh T mâu thuẫn là gì. Vợ chồng chị A và anh T có 02 con chung tên là: Quách Hà Thị An N - sinh ngày 11/3/2016 (giới tính: Nữ) và Quách Như Q – sinh ngày 19/01/2018 (giới tính: Nữ). Hiện nay các cháu phát triển bình thường về thể lực và trí lực. Lâu nay vợ chồng đi làm ăn xa nên cả hai con ở cùng ông bà nội là ông Quách Văn B và bà Bùi Thị V (bố mẹ đẻ anh T). Về điều kiện kinh tế: chính quyền địa phương không nắm hiện nay chị A và anh T làm gì, thu nhập như thế nào. Quá trình sinh sống tại thôn T, vợ chồng anh T, chị A có đạo đức tốt, chấp hành tốt các quy định của nơi cư trú, không vi phạm pháp luật.

Tại phiên tòa chị Hà Thị A vắng mặt, nhưng tại đơn xin xét xử vắng mặt chị A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thanh Hoá phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay, thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình và tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02 không có lý do.

- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị A, xử cho chị Hà Thị A được ly hôn anh Quách Văn T .

Giao con chung là Quách Hà Thị An N – sinh ngày 11/3/2016 (giới tính: Nữ) cho chị Anh trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung là Quách Như Q – sinh ngày 19/01/2018 (giới tính: Nữ) cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

-Về án phí: Chị Hà Thị A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa vµ trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vụ án Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hà Thị A có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh Quách Văn T có hộ khẩu thường trú tại xã T, tỉnh T. Căn cứ khoản 1 điều 28, điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa.

Anh Quách Văn T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn cố tình không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Các thủ tục đã được tiến hành đảm bảo theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự chứng tỏ anh T cố tình trốn tránh. Chị Hà Thị A có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T không có mặt theo quyết định của Toà án. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị A, anh T là đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Hà Thị A và anh Quách Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh T (nay là xã T, tỉnh T) vào ngày 23/11/2015. Xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị A và anh Quách Văn T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nhất vào năm 2024 khi vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Hà Thị A xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nữa nên đề nghị được giải quyết ly hôn anh T. Quá trình giải quyết vụ án anh đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm cũng như tham gia các phiên hòa giải, điều đó thể hiện anh T không quan tâm đến việc Tòa án đang giải quyết vụ án, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Cuộc sống hôn nhân giữa chị Hà Thị A và anh Quách Văn T đã thực sự tan vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hà Thị A được ly hôn anh Quách Văn T là phù hợp.

Về con chung: Chị Hà Thị A và anh Quách Văn T có 02 con chung tên là Quách Hà Thị An N - sinh ngày 11/3/2016 (giới tính: Nữ) và Quách Như Q – sinh ngày 19/01/2018 (giới tính: Nữ). Hiện nay các con phát triển bình thường về thể lực và trí lực. Khi ly hôn chị A có yêu cầu và theo nguyện vọng của các con là giao cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án không thu thập được nguyện vọng của anh T. Tuy nhiên xét điều kiện, hoàn cảnh để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt và phát triển cho các con, thấy rằng: Chị A và anh T đều có công ăn việc làm, có thu nhập. Hiện tại cả hai cháu N và Q đang được ông bà nội (là bố mẹ đẻ của anh T) trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; cuộc sống sinh hoạt và học tập của các cháu đang ổn định. Các cháu phát triển tốt về thể chất cũng như tinh thần. Cháu N có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu Q có nguyện vọng được ở với bố. Nguyện vọng của chị A và của các con là hoàn toàn chính đáng. Để không gây ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển bình thường của các con về mọi mặt, cũng như để san sẻ bớt gánh nặng cho chị A, anh T và đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho các con. Do đó, giao cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Chị Hà Thị A, anh Quách Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở và anh, chị có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại điều 82 và điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Hà Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Hà Thị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; khoản 4 Điều 147; Điều 177; điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị A được ly hôn anh Quách Văn T .

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung là Quách Hà Thị An N – sinh ngày 11/3/2016 (giới tính: Nữ) cho chị Hà Thị A trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung là Quách Như Q – sinh ngày 19/01/2018 (giới tính: Nữ) cho anh Quách Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

2.2. Chị Hà Thị A và anh Quách Văn T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

2.3. Chị Hà Thị A và anh Quách Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở anh, chị thực hiện quyền này và anh, chị có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Hà Thị A phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Nhưng chị Anh đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003175 ngày 18/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị Anh đã nộp đủ tiền án phí.

Anh Quách Văn T không phải nộp tiền án phí HNGĐ sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Chị Hà Thị A và anh Quách Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ