vanban.org

Bản án 13/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C đối với ông Lê Thanh C.

Chấm dứt Hợp đồng cầm cố số GRM200701015NA19X được ký kết ngày 24 tháng 7 năm 2020 giữa Công ty C với ông Lê Thanh C. Buộc ông Lê Thanh C có nghĩa vụ thanh toán Công ty C tổng số tiền 16.625.628 đồng (trong đó tiền vốn là 13.877.820 đồng, lãi trong hạn là 2.747.808 đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty C- Lê Thanh C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C đối với ông Lê Thanh C.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC A – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2026/DS-ST
Ngày 26 - 01 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhi

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhạn

Bà Cao Thị Mỹ Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực A - Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực A - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 701/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2026/QĐST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty C. Địa chỉ trụ sở chính: Số 128, đường Nguyễn Du, phường Trường Vinh, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông K - Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông K: Ông Đặng Văn B - Chức vụ: Nhân viên Công ty (theo Giấy ủy quyền số: 234/2025/UQ-SVN ngày 01 tháng 02 năm 2025 – vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Thanh C, sinh ngày 01/01/1983. Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06 tháng 11 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Công ty C trình bày:

Ngày 24 tháng 7 năm 2020 giữa Công ty C và ông Lê Thanh C có ký Hợp đồng cầm cố số: GRM200701015NA19X, theo đó ông C cầm cố cho Công ty 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu sơn đỏ -đen, biển kiểm soát 94B1-422.12 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 032722 do Công an huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (cũ) cấp ngày 09 tháng 7 năm 2019 cho ông C đứng tên sở hữu. Số tiền cầm cố là 16.200.000 đồng, thời hạn cầm cố là 24 tháng, mục đích cầm cố là tiêu dùng cá nhân và kinh doanh (nhưng ông C không có đăng ký kinh doanh).

Lãi suất cầm cố là 1,1%/ số tiền cầm cố/tháng, phí bảo dưỡng, phí quản lý hồ sơ cố định bằng 0,5% số tiền cầm cố/tháng, lãi suất quá hạn bằng 4% số tiền quá hạn thanh toán/tháng, phí mượn xe 3% số tiền cầm cố/tháng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 8% giá trị phần nghĩa vụ vi phạm, phí tất toán trước thời hạn 7% nợ gốc chưa thanh toán, chi phí tố tụng là 10% trên dư nợ gốc, lãi, phí quản lý hồ sơ cố định chưa thanh toán.

Do nhu cầu đi lại, phục vụ công việc nên ông C mượn lại xe mô tô theo Giấy mượn xe ngày 24 tháng 7 năm 2020. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết trong hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của Công ty mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở.

Nay Công ty C chỉ yêu ông Lê Thanh C trả cho Công ty số tiền nợ gốc 13.877.820 đồng và tiền lãi trong hạn từ thời điểm thực hiện ký hợp đồng cầm cố ngày 24 tháng 07 năm 2020 đến ngày 18 tháng 8 năm 2025 là 2.747.808 đồng và tiền lãi trong giai đoạn thi hành án. Sau khi ông C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty sẽ trả lại cho ông C giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Công ty xin được rút lại các yêu cầu khởi kiện còn lại theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 11 năm 2025. Yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty là tự nguyện.

Bị đơn ông Lê Thanh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C đối với ông Lê Thanh C. Buộc ông C có nghĩa vụ thanh toán Công ty tổng số tiền 16.625.628 đồng (trong đó tiền vốn là 13.877.820 đồng, lãi trong hạn là 2.747.808 đồng) và lãi suất trong giai đoạn thi hành án. Đình chỉ một phần yêu cầu của Công ty C về việc yêu cầu ông C thanh toán tổng số tiền 56.385.949 đồng (trong đó phí quản lý hồ sơ cố định 11.241.034 đồng, tiền lãi quá hạn 41.248.023 đồng, phí phạt nghĩa vụ thanh toán 1.110.226 đồng, chi phí tố tụng 2.786.666 đồng). Ông C phải chịu án phí có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, đương sự; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thẩm quyền giải quyết: Công ty C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Thanh C thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng cầm cố đã ký kết. Ông C có địa chỉ tại ấp Đại Điền, xã Long Điền, tỉnh Cà Mau. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực A - Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đặng Văn Bình có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lê Thanh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 24 tháng 7 năm 2020 giữa Công ty C và ông Lê Thanh C có ký Hợp đồng cầm cố số: GRM200701015NA19X, theo đó ông C cầm cố cho Công ty 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu sơn đỏ -đen, biển kiểm soát 94B1-422.12 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 032722 do Công an huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (cũ) cấp ngày 09 tháng 7 năm 2019 cho ông C đứng tên sở hữu. Số tiền cầm cố là 16.200.000 đồng, thời hạn cầm cố là 24 tháng, mục đích cầm cố là tiêu dùng cá nhân và kinh doanh (nhưng ông C không có đăng ký kinh doanh).

Lãi suất cầm cố là 1,1%/ số tiền cầm cố/tháng, phí bảo dưỡng, phí quản lý hồ sơ cố định bằng 0,5% số tiền cầm cố/tháng, lãi suất quá hạn bằng 4% số tiền quá hạn thanh toán/tháng, phí mượn xe 3% số tiền cầm cố/tháng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 8% giá trị phần nghĩa vụ vi phạm, phí tất toán trước thời hạn 7% nợ gốc chưa thanh toán, chi phí tố tụng là 10% trên dư nợ gốc, lãi, phí quản lý hồ sơ cố định chưa thanh toán.

Do nhu cầu đi lại, phục vụ công việc nên ông C mượn lại xe mô tô theo Giấy mượn xe ngày 24 tháng 7 năm 2020. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết trong hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của Công ty mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở.

Nay Công ty C chỉ yêu ông Lê Thanh C trả cho Công ty số tiền nợ gốc 13.877.820 đồng và tiền lãi trong hạn từ thời điểm thực hiện ký hợp đồng cầm cố ngày 24 tháng 07 năm 2020 đến ngày 18 tháng 8 năm 2025 là 2.747.808 đồng và tiền lãi trong giai đoạn thi hành án. Sau khi ông C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty sẽ trả lại cho ông C giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Công ty xin được rút lại các yêu cầu khởi kiện còn lại theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 11 năm 2025. Yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty là tự nguyện.

Xét thấy, Hợp đồng cầm cố được ký kết đúng theo quy định pháp luật. Ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và ông C không chứng minh được là ông thực hiện xong nghĩa vụ đối với Công ty nên việc Công ty yêu cầu ông C trả nợ vốn, lãi trong hạn, lãi phát sinh trong giai đoạn thi hành án cho Công ty là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc ông C có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty tổng số tiền 16.625.628 đồng (trong đó tiền vốn là 13.877.820 đồng, lãi trong hạn là 2.747.808 đồng) và lãi suất trong giai đoạn thi hành án.

Đình chỉ một phần yêu cầu của Công ty C về việc yêu cầu ông Lê Thanh C thanh toán tổng số tiền 56.385.949 đồng (trong đó phí quản lý hồ sơ cố định 11.241.034 đồng, tiền lãi quá hạn 41.248.023 đồng, phí phạt nghĩa vụ thanh toán 1.110.226 đồng, chi phí tố tụng 2.786.666 đồng).

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau có căn cứ nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 16.625.628 đồng x 5% = 831.281 đồng. Công ty C không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 309, 311, 313 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C đối với ông Lê Thanh C.

2. Chấm dứt Hợp đồng cầm cố số GRM200701015NA19X được ký kết ngày 24 tháng 7 năm 2020 giữa Công ty C với ông Lê Thanh C.

3. Buộc ông Lê Thanh C có nghĩa vụ thanh toán Công ty C tổng số tiền 16.625.628 đồng (trong đó tiền vốn là 13.877.820 đồng, lãi trong hạn là 2.747.808 đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên đây, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

4. Buộc Công ty C có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Lê Thanh C giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 032722 do Công an huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (cũ) cấp ngày 09 tháng 7 năm 2019 cho ông Lê Thanh C đứng tên sở hữu.

5. Đình chỉ một phần yêu cầu của Công ty C về việc yêu cầu ông Lê Thanh C thanh toán tổng số tiền 56.385.949 đồng (trong đó phí quản lý hồ sơ cố định 11.241.034 đồng, tiền lãi quá hạn 41.248.023 đồng, phí phạt nghĩa vụ thanh toán 1.110.226 đồng, chi phí tố tụng 2.786.666 đồng).

6. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 831.281 đồng, buộc ông Lê Thanh C phải chịu. Công ty C không phải chịu án phí. Công ty Sawad Tiền Có Ngay đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 1.800.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004722 ngày 17 tháng 11 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8. Án xử sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Nơi nhận:

Cỡ chữ