vanban.org

Bản án 13/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H về việc yêu cầu bị đơn ông Trương Văn H1, bà Lê Thị Kiều X trả số tiền vay 20.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H. Buộc bị đơn ông Trương Văn H1 và bà Lê Thị Kiều X cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Thanh H số tiền vay là: 410.000.000 đồng (Bốn trăm mười triệu đồng). Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H về việc yêu cầu bị đơn ông Trương Văn H1, bà Lê Thị Kiều X trả số tiền vay 20.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2026/DS-ST
Ngày: 23/01/2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Kim Thảo;

2. Bà Mai Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang tham gia phiên toà: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2026 tại Toà án nhân dân khu vực 10 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2025/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 382/2025/QĐXX-ST ngày 11 tháng 12 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 02/2026/QĐST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1969; (có mặt)

CCCD: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: Ấp H, xã C, tỉnh An Giang. SĐT: xxxxxxxxxx

2. Bị đơn:

2.1 Ông Trương Văn H1, sinh năm 1980; (có mặt)

CCCD: xxxxxxxxxxxx;

2.2 Bà Lê Thị Kiều X, sinh năm 1982; (vắng mặt)

CCCD: xxxxxxxxxxxx

Cùng cư trú: Ấp V, xã C, tỉnh An Giang.

SĐT: xxxxxxxxxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Trần Thanh H trình bày:

Vợ chồng ông Trương Văn H1 và bà Lê Thị Kiều X có vay của ông số tiền 430.000.000 đồng, lãi suất 20%/năm. Mục đích vay để đáo hạn ngân hàng. Thời hạn vay là: 01 năm. Hai bên có lập biên nhận ngày 04/6/2025. Ông H1, bà X nói ngân hàng không cho vay nên không có khả năng trả nợ cho ông một lần. Ông H1, bà X hứa sẽ trả mỗi tháng là 10.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền nợ 430.000.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày vay đến nay ông H1, bà X không trả vốn và lãi vay cho ông, cũng không thực hiện trả tiền mỗi tháng như cam kết tại biên nhận ngày 04/6/2025. Từ đó, ông khởi kiện yêu cầu: ông Trương Văn H1 và bà Lê Thị Kiều X trả cho ông số tiền 430.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất 20%/năm kể từ ngày 04/6/2025 cho đến khi trả nợ xong.

Tại phiên hoà giải ngày 05/11/2025, ông xin rút một phần yêu cầu khởi kiện: chỉ yêu cầu: ông Trương Văn H1 và bà Lê Thị Kiều X trả cho ông số tiền 410.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất 20%/năm kể từ ngày 04/6/2025 cho đến khi trả nợ xong.

* Bị đơn ông Trương Văn H1, bà Lê Thị Kiều X cùng trình bày:

Ông, bà thừa nhận có vay tiền của ông H số tiền là 430.000.000 đồng, có lập biên nhận ngày 04/6/2025. Ông, bà X có ký tên, ghi họ tên và lăn tay vào biên nhận ngày 04/6/2025 và giấy vay tiền. Thời hạn vay là 12 tháng từ ngày 04/6/2025 đến ngày 04/6/2026. Mục đích vay để đáo hạn ngân hàng. Lãi suất thoả thuận là nếu 100.000.000 đồng thì lãi là 400.000 đồng/ngày tính tới, việc thoả thuận lãi chỉ thoả thuận miệng, không lập thành văn bản. Ông bà đã trả cho ông H được 02 kỳ 10.000.000 đồng tiền gốc nên số nợ gốc còn lại là 410.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông bà đồng ý trả ông H số tiền 410.000.000 đồng, tuy nhiên yêu cầu được trả dần hàng tháng là 10.000.000 đồng như thoả thuận tại biên nhận nợ ngày 04/6/2025 cho đến khi trả hết số tiền 410.000.000 đồng, còn phần lãi thì yêu cầu xin bỏ lãi.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn ông Trần Thanh H trình bày: Rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn ông Trương Văn H1, bà Lê Thị Kiều X trả số tiền vay 20.000.000 đồng và rút yêu cầu tính lãi suất, chỉ yêu cầu bị đơn trả cho ông một lần số tiền vay 410.000.000 đồng.

- Bị đơn ông Trương Văn H1 trình bày: ông thừa nhận ông và bà X có vay số tiền 430.000.000 đồng của ông H, đã trả được 20.000.000 đồng, còn nợ 410.000.000 đồng, đồng ý trả số tiền 410.000.000 đồng cho nguyên đơn, tuy nhiên yêu cầu được trả dần hàng tháng là 10.000.000 đồng như thoả thuận tại biên nhận nợ ngày 04/6/2025, yêu cầu được bỏ lãi.

- Bị đơn bà Lê Thị Kiều X vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang phát biểu:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu đối với số tiền 20.000.000 đồng và rút yêu cầu tính lãi đối với bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu này; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 410.000.000 đồng, buộc bị đơn ông H1, bà X phải trả cho nguyên đơn ông H số tiền 410.000.000 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền vay; bị đơn có nơi cư trú tại: Ấp V, xã C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn bà Lê Thị Kiều X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà X.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn ông Trần Thanh H rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc bị đơn ông Trương Văn H1, bà Lê Thị Kiều X trả số tiền vay 20.000.000 đồng và rút yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền vay 410.000.000 đồng. Xét thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu này.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H thấy:

Về nghĩa vụ trả tiền:

Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, sự thừa nhận nợ của bị đơn ông Trương Văn H1 và bà Lê Thị Kiều X và các chứng cứ có trong hồ sơ là bản chính biên nhận ngày 04/6/2025 có chữ ký, chữ viết, dấu vân tay xác nhận của ông H1 và bà X đã xác định được bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 430.000.000 đồng, lãi suất là 20%/năm, mục đích đáo hạn ngân hàng. Sự thỏa thuận giữa ông H và bà X, ông H1 là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 của Bộ luật dân sự nên được xem là hợp pháp, qua đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Theo biên nhận ngày 04/6/2025, hai bên thoả thuận ông H1, bà X trả nợ gốc hàng tháng với số tiền 10.000.000 đồng đến khi hết số tiền 430.000.000 đồng. Tuy nhiên ông H1, bà X chỉ trả được 20.000.000 đồng thì không tiếp tục trả cho ông H, nên đã vi phạm thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền gốc còn lại là 410.000.000 đồng là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trong quá trình tố tụng bị đơn ông H1, bà X đồng ý trả số tiền vay 410.000.000 đồng cho ông H, nhưng xin trả dần 10.000.000 đồng/tháng, tuy nhiên không được ông H đồng ý, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

Về lãi suất:

Tại phiên toà, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 410.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự;

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H về việc yêu cầu bị đơn ông Trương Văn H1, bà Lê Thị Kiều X trả số tiền vay 20.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất 20%/năm kể từ ngày 04/6/2025 cho đến khi trả nợ xong.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H. Buộc bị đơn ông Trương Văn H1 và bà Lê Thị Kiều X cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Thanh H số tiền vay là: 410.000.000 đồng (Bốn trăm mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Trần Thanh H được nhận lại số tiền 11.150.000 đồng (Mười một triệu, một trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004833 ngày 16/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – An Giang.

- Ông Trương Văn H1 và bà Lê Thị Kiều X phải chịu 20.400.000 đồng (Hai mươi triệu, bốn trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh An Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND khu vực 10 – An Giang;

- Phòng THADS khu vực 10 – An Giang;

- Các đương sự;

- Phòng KT, TT & THA;

- Lưu VP;

- Lưu HS.

Ngô Thị Kim Quyên ................................................................................................................................. (29) Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS: Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo: (1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam). (2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”). (3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày. (4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”). (5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1). (6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân. (7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1). (8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”. (9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017). (10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”. (11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ). (12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4). (13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó. (14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”. Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi). Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...). (15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào. (16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13). (17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14). (18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15). (22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). (23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp

dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ]. (27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định. (28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án. (29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ