vanban.org

Bản án 13/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyễn Thị Ngọc C"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2026/DS-ST
Ngày: 26 - 02 - 2026
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín
dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thủy

2. Bà Nguyễn Thị Quế Phượng

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Duẩn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tùng Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 215/2025/TLST – DS ngày 14 tháng 11 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2026/QĐXXST – DS ngày 21 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2026/QĐST-DS ngày 09/02/2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1)

Địa chỉ: H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D- Chủ tịch HĐQT

Người đại diện theo ủy quyền:

- Bà Nguyễn Võ Thùy L- Cán bộ xử lý nợ. (có mặt)

- Ông Nguyễn Thành L1- Cán bộ xử lý nợ. (vắng mặt)

Địa chỉ: D B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo văn bản ủy quyền số 23922 ngày 10/10/2025)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1989; (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ C, ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện Ngân hàng TMCP V2 trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ngọc C có ký hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng TMCP V2 (gọi tắt là V1) theo các Hợp đồng cho vay sau:

- Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành & sử dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 18/10/2023 (số hồ sơ giải ngân LD2329400758).

Nội dung: Số tiền cho vay: 496.650.000 đồng; ngày giải ngân: 21/10/2023; thời hạn vay: 60 tháng (từ ngày 21/10/2023 đến 03/10/2028); mục đích vay: Tiêu dùng và mua bảo hiểm; lãi suất và kỳ hạn điều chỉnh: 23%/năm được cố định trong suốt thời hạn vay; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Bà C đã thanh toán cho V1 số tiền nợ gốc 57.156.647 đồng; tiền nợ lãi: 115.423.168 đồng (trong đó: Lãi trong hạn là 7.045.842 đồng, lãi quá hạn là 108.377326 đồng). Dư nợ tạm tính đến ngày 26/02/2026: Nợ gốc 439.493.353 đồng, nợ lãi 190.577.116 đồng. Tổng cộng: 630.070.469 đồng.

- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 24/5/2023 (số hồ sơ giải ngân 325-P-6862687).

Nội dung: Số tiền cho vay: 100.000.000 đồng; thời hạn vay: 60 tháng (từ ngày 26/5/2023 đến 26/5/2028); mục đích vay: Tiêu dùng; lãi suất: Theo quy định của V1. Dư nợ tạm tính đến ngày 26/02/2026: Nợ gốc 0 đồng; nợ lãi: 294.245 đồng. Tổng cộng: 294.245 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay vốn, bà Nguyễn Thị Ngọc C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V1 kể từ ngày 3/11/2024. Mặc dù V1 rất nhiều lần làm việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc C thanh toán nợ, nhưng đến nay bà Nguyễn Thị Ngọc C vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho V1. Tạm tính đến ngày 26/02/2026, bà Nguyễn Thị Ngọc C còn nợ V1 số tiền nợ gốc: 439.493.353 đồng, nợ lãi: 190.577.116 đồng. Tổng cộng: 630.070.469 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu, không trăm bảy mươi ngàn, bốn trăm sáu mươi chín đồng).

Nay V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc C phải thanh toán ngay cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành & sử dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 18/10/2023 (số hồ sơ giải ngân LD2329400758) tạm tính đến ngày 26/02/2026 là: Nợ gốc: 439.493.353 đồng, nợ lãi: 190.577.116 đồng. Tổng cộng: 630.070.469 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu, không trăm bảy mươi ngàn, bốn trăm sáu mươi chín đồng).

- Bà Nguyễn Thị Ngọc C phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 27/02/2026 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Đối với số tiền nợ thẻ tín dụng 67.193.624 đồng tạm tính đến ngày 08/10/2025 theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 24/5/2023 (số hồ sơ giải ngân 325-P-6862687). Do bà C đã trả hết nợ gốc nên V1 xin rút lại yêu cầu này.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc C: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà C không có mặt, không có bản tự khai gửi Tòa án, vì vậy không có lời khai của bà C.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ thẻ tín dụng 67.193.624 đồng tạm tính đến ngày 08/10/2025 theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ ký ngày 24/5/2023, số hồ sơ giải ngân 325-P-6862687; giữ nguyên yêu cầu buộc bà C phải thanh toán ngay cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành & sử dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 18/10/2023 (số hồ sơ giải ngân LD2329400758) tạm tính đến ngày 26/02/2026 là: Nợ gốc: 439.493.353 đồng, nợ lãi: 190.577.116 đồng. Tổng cộng: 630.070.469 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu, không trăm bảy mươi ngàn, bốn trăm sáu mươi chín đồng). Bà Nguyễn Thị Ngọc C phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên, kể từ ngày 27/02/2026 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án theo đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng thành phần, tư cách của những người tham gia tố tụng, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền nợ thẻ tín dụng 67.193.624 đồng tạm tính đến ngày 08/10/2025; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 26/02/2026 là: Nợ gốc 439.493.353 đồng, nợ lãi: 190.577.116 đồng. Tổng cộng: 630.070.469 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu, không trăm bảy mươi ngàn, bốn trăm sáu mươi chín đồng). Bà Nguyễn Thị Ngọc C phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên, kể từ ngày 27/02/2026 cho đến khi thanh toán hết nợ. Về án phí: Giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP V2 khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc C trả số tiền nợ gốc và lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng nên xác định tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã L, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo luật định.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng:

Người tham gia ký kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 17 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số: 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N). Về hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 119 của Bộ luật Dân sự 2015. Về nội dung của hợp đồng: Các điều khoản của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực đối với các bên về quyền, nghĩa vụ và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc 439.493.353 đồng:

Ngày 28/10/2023, V1 và bà Nguyễn Thị Ngọc C ký Hợp Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành & sử dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 18/10/2023 (số hồ sơ giải ngân LD2329400758 với số tiền vay là 496.650.000 đồng.

Sau khi các bên ký kết Hợp đồng tín dụng, V1 đã thực hiện việc giải ngân cho bà C số tiền vay là 496.650.000 đồng. Hai bên không có thắc mắc gì về các nội dung và điều khoản của Hợp đồng cũng như việc giải ngân số tiền vay, bà C đã nhận đủ số tiền vay. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tính đến ngày 26/02/2026, bà C mới thanh toán cho V1 số tiền nợ gốc 57.156.647 đồng. Vì vậy, HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu của V1 buộc bà C có trách nhiệm thanh toán cho V1 số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng ngày 28/10/2023 là 439.493.353 đồng.

[2.3] Về yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/02/2026) là 190.577.116 đồng. Và buộc bà Nguyễn Thị Ngọc C phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên, kể từ ngày 27/02/2026 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Xét sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên là phù hợp với quy định tại Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Nguyên đơn cung cấp bảng tính lãi theo sự thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng tín dụng, phù hợp với chính sách lãi suất của V1 trong từng thời kỳ. Dư nợ gốc tính lãi phù hợp với tập sao kê giao dịch tài khoản vay. Như vậy, bảng tính lãi là có căn cứ nên được chấp nhận. Đối chiếu bảng tính lãi với tập sao kê giao dịch tài khoản vay, số tiền lãi đã thanh toán thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản tiền nợ lãi (tạm tính đến hết ngày 26/02/2026) số tiền 190.577.116 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.

Do đó, tổng số tiền gốc và lãi mà bà C có trách nhiệm thanh toán cho V1 tính đến ngày xét xử sơ thẩm (26/02/2026) là: Nợ gốc 439.493.353 đồng, nợ lãi: 190.577.116 đồng. Tổng cộng: 630.070.469 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu, không trăm bảy mươi ngàn, bốn trăm sáu mươi chín đồng). Bà C có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/02/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

[3] Đối với số tiền nợ tạm tính đến ngày 08/10/2025 là 67.193.624 đồng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ ký ngày 24/5/2023, số hồ sơ giải ngân 325-P-6862687. Do nguyên đơn đã rút yêu cầu nên đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn bà C phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch được tính trên giá trị tranh chấp là 630.070.469 đồng.

Ngân hàng TMCP V2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010;

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V2 về việc buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc C trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 08/10/2025 là 67.193.624đ (Sáu mươi bày riệu, một trăm chín mươi ba ngàn, sáu trăm hai mươi bốn đồng) theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ ký ngày 24/5/2023, số hồ sơ giải ngân 325-P-6862687.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V2 về việc buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc C phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi quá hạn theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành & sử dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 18/10/2023 (số hồ sơ giải ngân LD2329400758) tạm tính đến ngày 26/02/2026 là: 630.070.469đ (Sáu trăm ba mươi triệu, không trăm bảy mươi ngàn, bốn trăm sáu mươi chín đồng). Trong đó: Nợ gốc 439.493.353 đồng, nợ lãi 190.577.116 đồng.

Kể từ ngày 27/02/2026, bà C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Ngọc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 29.202.819đ (Hai mươi chín triệu, hai trăm lẻ hai ngàn, tám trăm mười chín đồng).

Ngân hàng TMCP V2 không phải chịu án phí. Trả lại cho Ngân hàng TMCP V2 số tiền 15.147.910đ (Mười lăm triệu, một trăm bốn mươi bảy ngàn, chín trăm mười đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0033530 ngày 31/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/02/2026), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ