vanban.org

Bản án 13/2026/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N đối với bị đơn ông Tạ Thanh Hòa T bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm số tiền là 23.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim N được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO UY TÍNH DANH DỰ BỊ XÚC PHẠM NGỌC - HOÀ"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N đối với bị đơn ông Tạ Thanh Hòa T bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm số tiền là 23.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8- CÂN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2026/DS-ST
Ngày: 02/02/2026
V/v tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Huỳnh Văn Hiệp.

- Ông Thạch Dương Nhanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Bửu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên

Trong ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2025/TLST-DS ngày 16 tháng 05 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2026/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2026/QĐST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 8

- Cần Thơ giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm: 01/01/1988

Địa chỉ liên lạc : số B L, ấp C, phường M, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Tạ Thanh H, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng

Người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan:

- Công an xã N

Người đại theo pháp luật: Ông Mã Minh C, Trưởng Công an xã N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp K, xã N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N trình bày:

Vào buổi sáng ngày 02/01/2024, ông Phạm Minh K đến quán ăn Ngọc L tìm bà Nguyễn Thị Kim N để đòi nợ. Giữa bà Nguyễn Thị Kim N và ông K lúc này xảy ra cự cải gay gắt, nên điện báo ông Đ nguyên Trưởng Công an xã T và ông L, cán bộ Công an xã T là ông K đến quán la lối, chửi bới, gây rối buộc bà N trả nợ cho ông K, sau đó ông Đ phân công ông Tạ Thanh H Phó Trưởng Công an xã T đến quán bà N chở ông K về Trụ sở Công an xã T, bà N cũng chạy xe lại sau. Nhưng lúc này ông H không làm việc với bà N mà kêu bà N về, sau đó bà N tiếp tục đến thêm 3 lần nhưng ông H vẫn không làm việc với bà N và những người liên quan mà chỉ làm việc với 01 mình ông Phạm Minh K. Sự việc bà N có làm đơn tố cáo hành vi sai phạm của ông Tạ Thanh H đến Công an huyện M và Công an tỉnh S, đến ngày 04/12/2024 Công an tỉnh S đã ra Thông báo số 61/TB-CAT-PX05 về kết luận nội dung tố cáo ông H đã vi phạm điểm c Khoản 11 Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 38/2022/TT-BCA ngày 14/10/2022 của Bộ Trưởng Bộ C1 quy định việc xử lý kỷ luật trong Công an Nhân dân "Thiếu trách nhiệm dẫn đến thực thi nhiệm vụ, công vụ không đúng quy định, quy trình, thủ tục, thời hạn theo quy định gây hậu quả cho cá nhân, tổ chức", có mức xử lý kỷ luật bằng hình thức "Khiển trách". Nên yêu cầu ông Tạ Thanh H phải bồi thường do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà N gây thiệt hại. Tại phiên toà hôm nay bà N thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Tạ Thanh H, bồi thường tổn thất tinh thần cho tôi số tiền 10 tháng lương cơ sở: 2.340.000 đồng x 10= 23.400.000 đồng và công khai xin lỗi bà N theo đúng quy định tại Điều 590, 591, 592 của Bộ Luật Dân sự 2015, do ông H không xử lý vụ việc theo đúng quy trình xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà N gây thiệt hại trong thời gian dài phải đi khiếu nại hết huyện tới tỉnh lấy lại công bằng cho bản thân. Tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của mình là: Thông báo số 61/TB-CAT-PX05 ngày 04/12/2024 và Thông báo số 63/TB-CAT-PX05 ngày 04/12/2024 của Công an tỉnh S kết luật về nội dung tố cáo đối với ông Tạ Thanh H. * Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Tạ Thanh H trình bày tại biên bản ghi lời khai ngày 29/12/2025 như sau: Ngày 02/01/2024 khi còn phụ trách Phó Công an xã T trước kia, nay là Phó Công an xã Nhu Gia ông Tại Thanh H1 được phân công giải quyết vụ việc ông Nguyễn Bá L1 còng tay ông Phạm Minh K khi ông K đến quán của bà N để cự cải đòi nợ chứ không được phân công giải quyết vụ việc nào khác có liên quan đến bà Nguyễn Thị Kim N nên không có làm việc trực tiếp hay mời bà N đến làm việc. Nhưng bà Nguyễn Thị Kim N cứ căn cứ vào Thông báo số 61/TB-CAT-PX05 ngày 04/12/2024 của Công an tỉnh S kết luật về nội dung tố cáo đối với ông Tạ Thanh H để khởi kiện ông H yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm với số tiền là 23.400.000 đồng là không đúng, nên không đồng ý bồi thường. Ngoài ra ông Tại Thanh H1 cũng trình bày trong công việc ông Tạ Thanh H cũng không được phân công làm việc với bà Nguyễn Thị Kim N. Đồng thời tại Thông báo số 61/TB-CAT-PX05 ngày 04/12/2024 của Công an tỉnh S cũng đã thông báo tại mục 1.2 nội dung: “Đồng chí Tạ Thanh H có thái độ lớn tiếng khi tiếp xúc với bà Nguyễn Thị Kim N vào chiều ngày 02/01/2024, vi phạm quy tắc ứng xử của CAND là không có cơ sở để kết luận” ông H không gây thiệt hại gì cho bà Nguyễn Thị Kim N nên không đồng ý bồi thường theo yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim N. * Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: người đại diện hợp pháp củaCông an nhân dân xã N ông Mã Minh C, Trưởng Công an xã N trình bày: Công an xã N hiện nay là được xác nhập từ Công an xã T và Công an xã G, khi nhận bàn giao nhiệm vụ của Công an xã T trước kia thì có biết được sự việc ông Tạ Thanh H trước đây là Phó Công an xã T được phân công giải quyết vụ việc ông Nguyễn Bá L1 còng tay ông Phạm Minh K khi ông K đến quá của bà N để cự cải đòi nợ. Ông Tạ Thanh H không được phân công là việc với bà Nguyễn Thị Kim N. Nay bà N khởi kiện yêu cầu ông Tạ Thanh H phải bồi thường thiệt hại do sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm với số tiền là 23.400.000 đồng là không có cơ sở. Đơn vị không phân công ông Tạ Thanh H làm việc với bà N, bà N không liên quan gì đến vụ việc ông Nguyễn Bá L1 còng tay của ông Phạm Minh K. Vì vậy bà N cho rằng khi thực hiện nhiệm vụ ông Tạ Thanh H đã xâm phạm sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, uy tín của bà N gây thiệt hại là không đúng. Ngoài ra tại Thông báo số 61/TB-CAT-PX05 ngày 04/12/2024 của Công an tỉnh S cũng có thông báo tại Mục 1.2 nội dung kết luận: “Đồng chí Tạ Thanh H có thái độ lớn tiếng khi tiếp xúc với bà Nguyễn Thị Kim N vào chiều ngày 02/01/2024, vi phạm quy tắc ứng xử của CAND là không có cơ sở để kết luận”, ông H không gây thiệt hại gì cho bà Nguyễn Thị Kim N khi làm nhiệm vụ nên đơn vị không đồng ý bồi thường và khẳng định sự việc trên không có liên quan đến công an xã T nay là Công an xã N. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của luật tố tụng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của luật tố tụng. Chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự khi tham gia tố tụng. Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim N yêu cầu ông Tạ Thanh H bồi thường thiệt hại do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập được, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, thấy rằng yêu cầu trên của bà Nguyễn Thị Kim N là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Áp dụng Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N đối với bị đơn Tạ Thanh H về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm với số tiền tổn thất tinh thần là 23.400.000 đồng. Tuyên án phí theo quy định pháp luật. Tại phiên hòa giải, các đương sự vắng mặt không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ các vấn đề tranh chấp trong vụ án. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này, nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Tạ Thanh H bồi thường thiệt hại số tiền là 23.400.000 đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và công khai xin lỗi. Nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật nêu trên là quan hệ tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, được điều chỉnh tại Điều 592 của Bộ luật Dân sự; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Khoản 6 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N thay đổi bổ sung một phần nội dung đơn khởi kiện cụ thể là không yêu cầu ông Tạ Thanh H phải bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm và bổ sung yêu cầu ông H phải công khai xin lỗi nguyên đơn do xâm phạm đến do danh dự, nhân phẩm, uy tín của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N. Xét thấy việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận việc thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Tạ Thanh H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đại diện Công an xã N ông Mã Minh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan.

Về nội dung giải quyết: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N cho rằng vào ngày 02/01/2024, bị đơn Tạ Thanh H là Phó Trưởng Công an xã T trước đây (nay là Công an xã N, thành phố Cần Thơ) được phân công giải quyết vụ việc ông Phạm Minh K đến quán bà Nguyễn Thị Kim N đòi nợ nhưng ông Tạ Thanh H không làm việc với bà Nguyễn Thị Kim N mà có thái độ lớn tiếng, không làm việc với bà Nguyễn Thị Kim N, ông H không xử lý vụ việc theo đúng quy trình nên đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức “Khiển trách”. Việc ông H không xử lý vụ việc theo đúng quy trình đã xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N trong thời gian dài bà N phải đi khiếu nại nhiều nơi gây thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Kim N nên yêu cầu bị đơn Tạ Thanh H phải bồi thường tổn thất tinh thần cho nguyên đơn số tiền 10 tháng lương cơ sở: 2.340.000 x 10= 23.400.000 đồng và phải công khai xin lỗi bà Nguyễn Thị Kim N.

Bị đơn ông Tạ Thanh H trình bày vào ngày 01/12/2024 ông được phân công giải quyết việc ông Nguyễn Bá L1 còng tay ông Phạm Minh K, không thừa nhận việc được phân công làm việc với nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N để dẫn đến không xử lý vụ việc theo đúng quy trình và không có hành vi thái độ lớn tiếng, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng như xâm hại sức khoẻ của với bà Nguyễn Thị Kim N. Tại biên bản ghi lời khai ngày 22/01/2026 Trưởng công an xã N cũng xác định, khi nhận bàn giao nhiệm vụ của Công an xã T trước kia thì có biết được sự việc ông Tạ Thanh H trước đây là Phó Công an xã T được phân công giải quyết vụ việc ông Nguyễn Bá L1 còng tay ông Phạm Minh K khi ông K đến quán của bà N để cự cải đòi nợ. Ông Tạ Thanh H không được phân công là việc với bà Nguyễn Thị Kim N nên không có việc trong thời gian ông H làm Phó Công an xã T đã gây thiệt hại gì cho bà N. Ngoài ra ông C cũng trình bày Thông báo kết luật nội dung tố cáo 61/TB-CAT-PX05 ngày 04/12/2024 của Công an tỉnh S thông báo không có cơ sở để kết luận Tạ Thanh H có thái độ lớn tiếng khi tiếp xúc với bà Nguyễn Thị Kim N vào chiều ngày 02/01/2024 nên Công an xã N không có trách nhiệm bồi thường theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N.

Trong khi đó, nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì chứng minh ngoài lời trình bày của mình là ông Tạ Thanh H được phân làm việc với bà N đã có hành vi thái độ lớn tiếng, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín cho bà Nguyễn Thị Kim N, không xử lý vụ việc của bà N yêu cầu theo đúng quy trình. Nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để khẳng định ông Tạ Thanh H không xử lý vụ việc theo đúng quy trình và có hành vi thái độ lớn tiếng, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín cho bà Nguyễn Thị Kim N. Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh được trong thời gian đi khiếu nại nhiều nơi bà N đã có thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín để Hội đồng xét xử xem xét nên không có cơ sở xác định thiệt hại để xem xét yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N là có cơ sở.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cho rằng ông Tạ Thanh H không xử lý vụ việc theo đúng quy trình nên bà N đã đi khiếu nại nhiều nơi làm thiệt hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của nguyên đơn và cung cấp Thông báo số 61/TB-CAT-PX05 ngày 04/12/2024 của Công an tỉnh S có nội dung kết luận về nội dung tố cáo ông Tạ Thanh H bị lý kỷ luật bằng hình thức "Khiển trách" để chứng minh cho yêu cầu bồi thường thiệt hại của mình. Tuy nhiên qua xem xét tài liệu chứng cứ là Thông báo số 61/TB-CAT-PX05 ngày 04/12/2024 của Công an tỉnh S mà nguyên đơn đã cung cấp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại Mục 1.2 đã có nội dung thông báo kết quả tố cáo Tạ Thanh H có thái độ lớn tiếng khi tiếp xúc với bà Nguyễn Thị Kim N vào chiều ngày 02/01/2024, vi phạm quy tắc ứng xử của CAND là không có cơ sở để kết luận. Do đó, không có căn cứ để khẳng định bị đơn Tạ Thanh H đã không xử lý vụ việc theo đúng quy trình gây thiệt hại cho nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N.

Do không cơ sở để xác định bị đơn Tạ Thanh H không xử lý vụ việc theo đúng quy trình, có thái độ lớn tiếng khi tiếp xúc với bà Nguyễn Thị Kim N vào chiều ngày 02/01/2024 gây thiệt hại; Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh trong thời gian đi khiếu nại nhiều nơi có thiệt hại xãy ra. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 584 bộ luật dân sự năm 2015 và Căn cứ Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao khẳng định yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần và công khai xin lỗi do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm của Nguyễn Thị Kim N đối với ông Tạ Thanh H là không có cơ sở để chấp nhận.

Từ những phân tích nhận định như trên, xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N đối với bị đơn Tạ Thanh H là không có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 584 của Bộ luật Dân sự không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên Nguyễn Thị Kim N đối với bị đơn Tạ Thanh H về việc bồi thường thiệt hại do sức khoẻ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Cụ thể là bồi thường thiệt hại số tiền 10 tháng lương cơ sở: 2.340.000 x 10 = 23.400.000 đồng và phải công khai xin lỗi.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N yêu cầu bồi thường về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án án.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ đã nêu là có căn cứ phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 6 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 36, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 143, Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 244, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 244, Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bỗ sung năm 2025;

Căn cứ vào Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Căn cứ điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N đối với bị đơn ông Tạ Thanh Hòa T bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm số tiền là 23.400.000 đồng và phải công khai xin lỗi.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo trình tự Phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ