- Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc C, Nguyễn Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 13/2025/HSST Ngày: 26/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG
TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thuý Phượng
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Cil Pam Ha Lan
+ Bà Bùi Thị Là
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đam Rông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, Tòa án nhân dân huyện Đam Rông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 09/5/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Quốc C. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: (không). Sinh ngày: 28 tháng 12 năm 2001 tại Ninh Thuận. Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Đồng. Chỗ ở: thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Sửa xe. Họ tên cha: Nguyễn Quốc P, sinh năm 1977. Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1983. Anh em ruột: Có 03 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2018. Vợ, con: chưa có. Hiện cha, mẹ, các em đang sinh sống tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Tiền án, tiền sự: (không).
Nhân thân: Ngày 19/4/2021, bị Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh nhau, hình thức phạt tiền, mức phạt 750.000 đồng. Chấp hành xong ngày 20/5/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03/01/2025, được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh ngày 23/01/2025. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Quốc H. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: (không). Sinh ngày: 31 tháng 3 năm 2008 tại Ninh Thuận. Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở: thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Sửa xe. Họ tên cha: Nguyễn Quốc P, sinh năm 1977. Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1983. Anh em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2018. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ, con: chưa có. Hiện cha, mẹ, anh, em đang sinh sống tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Tiền án, tiền sự: (không).
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03/01/2025, được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh ngày 23/01/2025. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quốc H: Ông Nguyễn Quốc P; Sinh năm: 1977; bà Nguyễn Thị Đ1. Sinh năm: 1983.
Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Ông P, bà Đ1 có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc H: Bà Hà Thị Đ2; bà Nguyễn Ngọc Hoàng G - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L;
Địa chỉ: Tầng E, khối nhà E tầng khu trung tâm hành chính tỉnh Lâm Đồng.
Bà G, bà Đ2 có mặt
* Bị hại: Ông Nguyễn Phạm Huỳnh P1; Sinh năm: 1988.
Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Thành P2; Sinh năm: 2006
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Phí Hoàng P3; Sinh năm: 2008
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
+ Anh Huỳnh Thanh Minh H1; Sinh năm: 2003.
Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
+ Ông Nguyễn Phạm Huỳnh P4; Sinh năm: 1993
Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
+ Ông Huỳnh Thanh C1; bà Hoàng Thị X
Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Ông C1, ông P4 có mặt tại phiên tòa, anh H1, bà X vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc C, sinh năm 2001 và Nguyễn Quốc H, sinh ngày 31/3/2008, cùng trú tại thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là anh em ruột. Huỳnh Thanh Minh H1, sinh năm 2003 và Nguyễn Phạm Huỳnh P1, sinh năm 1988, cùng trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ là anh em họ.
Khoảng 19 giờ ngày 25/10/2024, tại thôn T, xã Đ, Huỳnh Thanh Minh H và Nguyễn Quốc H xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát, đánh nhau bằng tay không thì được Trương Anh L, sinh năm 2003, Huỳnh Tấn A, sinh năm 2006, Nguyễn Phạm Huỳnh P5, sinh năm 2005, K, sinh năm 2008, Lê Thành P2, sinh năm 2006, Phí Hoàng P3, sinh năm 2008 can ngăn nên giải tán, đi về.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, ông Nguyễn Quốc P (cha ruột của C và H) cùng C, H, K, Phí Hoàng P3 đến nhà ông Huỳnh Thanh C1, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã Đ, với mục đích hòa giải mâu thuẫn giữa H1 và H. Khi cả hai gia đình đang nói chuyện thì P1 cùng Nguyễn Phạm Huỳnh P4 (em ruột của P1) đi về. Lúc này, giữa P1, P4 xảy ra cự cãi với H, C. P1 nói “Đụng đến em tao thì tao giết”, nói xong P1 dùng tay không, P4 dùng mũ bảo hiểm lao vào đánh vào mặt H. Hai bên xô, đẩy nhau vào khu vực bếp, P1 lấy 01 cái chảo trên bếp đánh H, H lấy 01 chiếc muôi để trên bếp đánh trả thì được mọi người can ngăn nên H đi ra ngoài sân. Lúc này, do thấy H bị đánh nên C bức xúc, nói với H, K và Phí Hoàng P3 “Về nhà lấy mấy cây gậy để đánh ông P1”. H điều khiển xe mô tô chở K và Phí Hoàng P3 về nhà, lấy 03 con dao và 01 ống tuýp sắt. Sau đó, Phí Hoàng P3 điều khiển xe mô tô chở H quay lại nhà ông C1, K ở nhà. Khi đến Ngã ba Huế thuộc thôn T, xã Đ thì gặp Lê Thành P2 và C, hai người này quay lại đi cùng.
Tại nhà ông C1, H để dao tại cổng rồi cầm ống tuýp lao tới chỗ P4. Thấy vậy, P4 bỏ chạy, H đuổi theo được khoảng 15m thì dừng lại. Lúc này, P1 dùng gạch ném về phía C nhưng không trúng, C nhặt 01 con dao tại cổng, đuổi theo thì P1 chạy vào trong nhà ông C1, C dùng dao chém về phía P1. P1 bỏ chạy ra ngoài thì H quay lại, cầm ống tuýp sắt đuổi theo đánh trúng vào người P1. Lúc này, mọi người trong nhà can ngăn nên C, Hữu bỏ về, P4 đưa P1 đi cấp cứu tại Trạm Y tế xã P, sau đó chuyển lên điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh L. Hậu quả: P1 bị vết thương vùng đầu, xây xát lưng.
Cơ quan điều tra thu giữ: 01 dao tự chế dài 60cm, lưỡi dao dài 48cm, bản rộng 3,8cm, mũi nhọn, lưỡi sắc; 01 con dao tự chế dài 82cm, lưỡi bằng kim loại, màu đen, dài 55cm, bản rộng 03cm, mũi nhọn, lưỡi sắc; 01 con dao tự chế dài 66cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng, dài 42cm, bản rộng 04cm, mũi nhọn; 01 con dao tự chế dài 90cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng, dài 63cm, bản rộng 04cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp sắt màu trắng, dài 107cm, đường kính 2,6cm, hai đầu cắt bằng, rỗng ruột; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AirBlade, màu trắng - đỏ, biển kiểm soát 76E1-086.54; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AirBlade, màu trắng - đỏ, biển kiểm soát 85F1-302.24. Xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, Cơ quan điều tra đã trả lại hai xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Quốc P, ông P không có yêu cầu gì thêm. Đối với chiếc chảo Nguyễn Phạm Huỳnh P1 dùng để đánh H, Cơ quan điều tra không thu giữ nên không xem xét xử lý.
Theo kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 788/KLTTCT-PYLĐ ngày 30/12/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh L: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Phạm Huỳnh P1, tại thời điểm giám định là 11% (mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Theo bản cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 10/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng thì bị cáo Nguyễn Quốc C, Nguyễn Quốc H bị truy tố về “Tội cố ý thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông đã truy tố, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc C, Nguyễn Quốc H đủ yếu tố cấu thành “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã cùng gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm. Đồng thời trong vụ án này các bị cáo phạm tội có một phần lỗi của bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, 58, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, 58, Điều 65, 91 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã cùng gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 22.000.000 đồng, bị hại P1 không yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về vật chứng vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 dao tự chế dài 60cm, lưỡi dao dài 48cm, bản rộng 3,8cm, mũi nhọn, lưỡi sắc; 01 con dao tự chế dài 82cm, lưỡi bằng kim loại, màu đen, dài 55cm, bản rộng 03cm, mũi nhọn, lưỡi sắc; 01 con dao tự chế dài 66cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng, dài 42cm, bản rộng 04cm, mũi nhọn; 01 con dao tự chế dài 90cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng, dài 63cm, bản rộng 04cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp sắt màu trắng, dài 107cm, đường kính 2,6cm, hai đầu cắt bằng, rỗng ruột do không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình có thái độ ăn năn hối cải. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo không bổ sung cũng như tranh luận gì thêm.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc H: Bị cáo H là người chưa thành niên, còn suy nghĩ non nớt, tâm lý chưa ổn định, chưa nhận thức hết được hậu quả do mình gây ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, thăm hỏi bị hại, tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nơi cư trú ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo H được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa sai và hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, vì phút bốc đồng mà gây thương tích cho bị hại mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, có cơ hội sửa sai.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo H, C tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 788/KLTTCT-PYLĐ ngày 30/12/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh L, biên bản xác minh và ghi nhận hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 19 giờ ngày 25/10/2024, tại thôn T, xã Đ, Huỳnh Thanh Minh H và Nguyễn Quốc H xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát, đánh nhau bằng tay không thì được Trương Anh L, Huỳnh Tấn A, Nguyễn Phạm Huỳnh P5, K, Lê Thành P2, Phí Hoàng P3 can ngăn nên giải tán, đi về.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, ông Nguyễn Quốc P (cha ruột của C và H), cùng C, H, K, Phí Hoàng P3 đến nhà ông Huỳnh Thanh C1, tại thôn T, xã Đ, với mục đích hòa giải mâu thuẫn giữa H1 và H. Khi cả hai gia đình đang nói chuyện thì P1 cùng Nguyễn Phạm Huỳnh P4 (em ruột của P1) đi về. Lúc này, giữa P1, P4 xảy ra cự cãi với H, C. P1 nói “Đụng đến em tao thì tao giết”, nói xong P1 dùng tay không, P4 dùng mũ bảo hiểm lao vào đánh vào mặt H. Hai bên xô, đẩy nhau vào khu vực bếp, P1 lấy 01 cái chảo trên bếp đánh H, H lấy 01 chiếc muôi để trên bếp đánh trả thì được mọi người can ngăn nên H đi ra ngoài sân. Lúc này, do thấy H bị đánh nên C bức xúc, nói với H, K và Phí Hoàng P3 “Về nhà lấy mấy cây gậy để đánh ông P1”. H điều khiển xe mô tô chở K và Phí Hoàng P3 về nhà, lấy 03 con dao và 01 ống tuýp sắt. Sau đó, Phí Hoàng P3 điều khiển xe mô tô chở H quay lại nhà ông C1, K ở nhà. Khi đến Ngã ba Huế thuộc thôn T, xã Đ thì gặp Lê Thành P2 và C, hai người này quay lại đi cùng.
Tại nhà ông C1, H để dao tại cổng rồi cầm ống tuýp lao tới chỗ P4. Thấy vậy, P4 bỏ chạy, H đuổi theo được khoảng 15m thì dừng lại. Lúc này, P1 dùng gạch ném về phía C nhưng không trúng, C nhặt 01 con dao tại cổng, đuổi theo thì P1 chạy vào trong nhà ông C1, C dùng dao chém về phía P1 nhưng không trúng, P1 bỏ chạy ra ngoài thì H quay lại, cầm ống tuýp sắt đuổi theo đánh trúng vào đầu P1. Hậu quả: P1 bị thương trên đầu tỷ lệ tại thời điểm giám định là 11%.
Đối chiếu lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai và thương tích của bị hại, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc C, Nguyễn Quốc H phạm tội "Cố ý gây thương tích", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bỏ chi phí để lo cứu chữa cho bị hại. Trong vụ án này, bị hại P1 cũng có một phần lỗi do gây gỗ, đánh nhau với các bị cáo, đánh các bị cáo trước. Do đó áp dụng các cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Các bị cáo nhận thức được hành vi dùng tuýp sắt đánh vào cơ thể người khác gây ra thương tích là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả đã gây ra. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo phạm tội một phần lỗi do bị hại và bị cáo H phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần cân nhắc trong quá trình lượng hình đối với bị cáo. Đối với bị cáo C là người thành niên và có nhân thân xấu nên phải chịu mức hình phạt cao hơn so vói bị cáo H là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại P1 xác nhận sau khi xảy ra sự việc, gia đình các bị cáo đã bồi thường cho bị hại toàn bộ chi phí điều trị 22.000.000 đồng, P1 không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về xử lý vật chứng: Tang vật cơ quan điều tra thu giữ 01 dao tự chế dài 60cm, lưỡi dao dài 48cm, bản rộng 3,8cm, mũi nhọn, lưỡi sắc; 01 con dao tự chế dài 82cm, lưỡi bằng kim loại, màu đen, dài 55cm, bản rộng 03cm, mũi nhọn, lưỡi sắc; 01 con dao tự chế dài 66cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng, dài 42cm, bản rộng 04cm, mũi nhọn; 01 con dao tự chế dài 90cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng, dài 63cm, bản rộng 04cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp sắt màu trắng, dài 107cm, đường kính 2,6cm, hai đầu cắt bằng, rỗng ruột; Xét thấy, không có giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AirBlade, màu trắng - đỏ, biển kiểm soát 76E1-086.54; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AirBlade, màu trắng - đỏ, biển kiểm soát 85F1-302.24. Xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, Cơ quan điều tra đã trả lại hai xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Quốc P, ông P không có yêu cầu gì.
Đối với chiếc chảo Nguyễn Phạm Huỳnh P1 dùng để đánh H, Cơ quan điều tra không thu giữ nên không đặt ra để xem xét, xử lý.
Trong vụ án này, Nguyễn Phạm Huỳnh P1, có hành vi dùng tay và chảo đánh vào mặt Nguyễn Quốc H, nhưng không gây thương tích, H không có yêu cầu gì nên không có cơ sở để xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự. Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Phạm Huỳnh P1 là đúng quy định.
Ngoài ra, còn có các đối tượng: Huỳnh Thanh Minh H1, Nguyễn Phạm Huỳnh P4 là những người có hành vi đánh Nguyễn Quốc H, tuy nhiên không gây thương tích, H không có yêu cầu gì nên không có cơ sở xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích; Phí Hoàng P3, Lê Thành P2 đi cùng các bị cáo, tuy nhiên không tham gia đánh nhau. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định hành vi của những người này chưa gây ảnh hưởng nhiều đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên không có căn cứ xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự về Tội gây rối trật tự công cộng. Công an huyện Đ đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Quốc C và Nguyễn Quốc H phải nộp án phí hình sơ thẩm theo quy của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc C, Nguyễn Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc C. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án (26/5/2025).
Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, 58, 91, 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc H. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án (26/5/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Quốc C, Nguyễn Quốc H cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian các bị cáo chấp hành. Gia đình bị cáo H, C có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục các bị cáo; trường hợp thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì việc giám sát các bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. T tịch thu tiêu huỷ 01 dao tự chế dài 60cm, lưỡi dao dài 48cm, bản rộng 3,8cm, mũi nhọn, lưỡi sắc; 01 con dao tự chế dài 82cm, lưỡi bằng kim loại, màu đen, dài 55cm, bản rộng 03cm, mũi nhọn, lưỡi sắc; 01 con dao tự chế dài 66cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng, dài 42cm, bản rộng 04cm, mũi nhọn; 01 con dao tự chế dài 90cm, lưỡi bằng kim loại, màu trắng, dài 63cm, bản rộng 04cm, mũi nhọn; 01 ống tuýp sắt màu trắng, dài 107cm, đường kính 2,6cm, hai đầu cắt bằng, rỗng ruột (Vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/02/2025).
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Quốc C, Nguyễn Quốc H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/5/2025). Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.
(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo). Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lâm Đồng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND H.Đam Rông;
- CQ CSĐT CA tỉnh Lâm Đồng;
- Phân trại Đam Rông - Phòng PC11 CA tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng PC10- CA tỉnh Lâm Đồng;
- UBND xã Phi Liêng;
- Bị cáo; bị hại;
- Lưu HS.
Đỗ Thị Thúy Phượng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND H.Đam Rông; - CQ Đtra CA H.Đam Rông; - CC THADS H.Đam Rông; - Bị cáo, bị hại, người có QL,NVLQ; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thúy Phượng |