vanban.org

Bản án 13/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu, tiêu hủy: 13 mảnh nilon trong đó có 01 mảnh nilon màu hồng và 12 mảnh nilon màu trắng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HSST
Ngày: 29/7/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Khải

Ông Lò Văn Chương

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn H (không có tên gọi khác), sinh năm: 1991 tại tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản A, xã G, huyện Đ, tỉnh Đ (Nay là: bản A, xã L, tỉnh Đ) quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hóa: 05/12; con ông Lò Văn Hoang (đã chết) và bà Tòng Thị Pánh (đã chết); vợ là Lò Thị Quyên, sinh năm 1989 (Đã ly hôn) và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2025, tạm giam từ ngày 28/3/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Quàng Thị N, sinh năm 1980, địa chỉ: bản Giói A, xã Luân Giói, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Nay là: bản G, xã L, tỉnh Đ), vắng mặt không có lý do.

+ Anh Lò Văn Đ, sinh năm 2002, địa chỉ: bản G, xã G, huyện Đ, tỉnh Đ (Nay là: bản G, xã L, tỉnh Đ), vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 21/3/2025, Lò Văn H mang theo số tiền 400.000 đồng và điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 27B2 - 172.90 mượn của chị Quàng Thị Nơi một mình đi đến bản Tư Làng, xã Mường Bám, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến bản Tư Làng, Hớn gặp và mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết được 01 gói Heroine gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 400.000 đồng. Mua được Heroine, Hớn cầm ở lòng bàn tay phải và điều khiển xe mô tô quay về nhà chị Nơi, dùng tay bẻ thành 14 cục, dùng mảnh nilon màu trắng cũ gói lại thành 14 gói và cho vào một mảnh nilon màu hồng có sẵn trong nhà buộc thắt nút cất giấu ở đầu giường ngủ nhà chị Nơi. Khoảng 07 giờ sáng ngày 22/3/2025, Hớn lấy 14 gói Heroine cho vào túi quần bên trái đang mặc trên người đi vào rừng lấy 01 gói ra để sử dụng, 13 gói Heroine còn lại Hớn gói lại như cũ rồi cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc đi lên khu vực rừng thuộc bản Giói A, xã Luân Giói để kéo gỗ. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Hớn lấy 01 gói Heroine ra để sử dụng, 12 gói Heroine còn lại Hớn tiếp tục gói lại như cũ rồi cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc. Hồi 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi Hớn đang đi kéo gỗ về đến khu vực bản Phiêng Muông, xã Luân Giói, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Nay là bản Phiêng Muông, xã Mường Luân, tỉnh Điện Biên) thì bị tổ công tác Công an xã Luân Giói, tỉnh Điện Biên (Nay là Công an xã Mường Luân, tỉnh Điện Biên) bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên trái của Hớn đang mặc 12 Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng có tổng khối lượng 0,89 gam Heroine.

Vật chứng thu giữ khi bị bắt quả tang gồm: 01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa 12 gói Heroine gói trong mảnh nilon màu trắng, 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B2 - 172.90.

Tại biên bản mở niêm phong vật chứng, cân khối lượng, lấy mẫu giám định và Kết luận giám định số: 220/KL-KTHS, ngày 25/3/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn H có khối lượng 0,89 gam là chất ma túy, loại Heroine; không hoàn lại đối tượng giám định.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được hành vi của người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo do không có thông tin cụ thể.

Ngày 06/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lò Văn Đức 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 27B2-172.90.

Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSĐBĐ ngày 23/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên) truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn H về tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 17 tháng đến 20 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 13 mảnh nilon trong đó có 01 mảnh nilon màu hồng và 12 mảnh nilon màu trắng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Quàng Thị Nơi vắng mặt tại phiên tòa, các lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 21/3/2025 tôi đang ở nhà thì Hớn đến, hỏi mượn xe máy BKS 27B2-172.90 bảo đi Mường Luân có việc, tôi không biết việc Hớn sử dụng xe máy đi mua ma túy sử dụng, sau khi Hớn mua được ma túy về cũng không nói cho tôi biết, tôi không biết Hớn mua được ma túy giấu trong người. Hiện nay, chiếc xe máy đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, vì vậy về TNDS tôi không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn Đức vắng mặt tại phiên tòa, các lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chiếc xe máy BKS 27B2-172.90 là tài sản của tôi, tôi mua từ năm 2021 với giá 27.000.000 đồng. Số tiền mua xe do tôi đi làm thuê mà có, vào tháng 3 năm 2025 tôi đi làm thuê dưới Bắc Giang và để xe máy BKS 27B2-172.90 cho mẹ đẻ tôi là bà Quàng Thị Nơi sử dụng, quản lý. Ngày 21/3/2025 bị cáo Lò Văn H sử dụng xe máy đi mua ma túy tôi không biết. Hiện nay chiếc xe máy đã được trả lại cho tôi, vì vậy về TNDS tôi không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi của bị cáo Lò Văn H bị truy tố thấy rằng:

Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/3/2025; Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Vào ngày 21/3/2025 bị cáo Lò Văn H có hành vi cất giấu 0,89 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Bản thân bị cáo Lò Văn H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại chất ma túy đối với sức khỏe con người và sự nghiêm cấm của pháp luật nhưng vẫn cố ý mua tàng trữ để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, nên phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lò Văn H là đúng pháp luật, không oan sai.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,89 gam Heroine của bị cáo Lò Văn H là nghiêm trọng. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm điều cấm của pháp luật, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 17 tháng đến 20 tháng tù, căn cứ vào khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ, trình độ hiểu biết, nhận thức về pháp luật còn hạn chế do sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cần xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp hơn để phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, không có tài sản gì có giá trị. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Do hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Lò Văn H xảy ra trước ngày 01/7/2025, áp dụng tình tiết có lợi cho bị cáo nên áp dụng mức hình phạt theo khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 (Sửa đổi năm 2017) mà không áp dụng quy định Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 13 mảnh nilon trong đó có 01 mảnh nilon màu hồng và 12 mảnh nilon màu trắng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu đỏ đen, số máy JA52E0076401, số khung RLHJA3832LY000203, biển kiểm soát 27B2-172.90. Quá trình điều tra làm rõ chủ sở hữu hợp pháp là anh Lò Văn Đức, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được do không có thông tin cụ thể. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 22/3/2025.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu, tiêu hủy: 13 mảnh nilon trong đó có 01 mảnh nilon màu hồng và 12 mảnh nilon màu trắng.

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông (Nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Điện Biên) theo biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 23/6/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông (Nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Điện Biên).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo .

4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/7/2025). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ