vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 07/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn H phạm tội “Mua bán, chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 305, điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H – 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/9/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn H - Tàng trữ, sử dụng, chế tạo vật liệu nổ - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật…"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn H phạm tội “Mua bán, chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày: 07 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Luân

2. Bà Trần Thị Ngọc Trân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Kiều Công Đô– Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Phan Văn H, sinh năm 1982 tại N - Khánh Hòa.

Nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Phan Văn V và bà Hồ Thị T; vợ Lê Thị S, con có 02 người, lớn sinh năm 2007 và nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 30/9/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị S, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 9 giờ ngày 30/9/2024 Tổ tuần tra Đồn biên phòng N1 tiến hành kiểm tra trên vùng biển thuộc ấp H, xã N, huyện K, tỉnh Kiên Giang tại tọa độ 09038`204”N-104023`049”E phát hiện phương tiện tàu cá số hiệu KH-01666-TS do Phan Văn H, ở Tổ dân phố V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa chủ tàu cùng với 09 ngư phủ khác (không nhớ họ tên, địa chỉ). Qua kiểm tra tàu phát hiện thu giữ 02 bịch nylon (01 bịch màu đen trọng lượng 3,8kg và 01 bịch màu xanh dương trọng lượng 5,5kg) bên trong có chứa tinh thể dạng rắn, màu xám và 07 kíp nổ cùng một số đồ vật khác. Nghi là vật liệu nổ.

Đến ngày 01/10/2024, Đồn biên phòng N1 tiến hành khám xét phương tiện tàu KH-01666 phát hiện dưới hầm máy thu giữ 1,5kg chất rắn, màu xám; 27 lon nhôm, bên trong có chứa bột rắn, màu xám nghi là vật liệu nổ cùng một số đồ vật khác.

Quá trình làm việc Phan Văn H khai nhận: Tàu của H xuất bến tại vùng biển V, đến vùng biển Kiên Giang khai thác thủy sản. Vào ngày 27/6/2024, tàu trên đường đến vùng biển M, C thuộc huyện N, tỉnh Ninh Thuận neo đậu, có người đàn ông qua tàu Huynh giới thiệu tên “Đen” (không rõ họ, tên địa chỉ) nói chuyện, hỏi H muốn mua thuốc để khai thác thủy sản không, H nói cần nhưng bản thân không biết chế tạo trái nổ, Đ hướng dẫn cho H cách chế tạo, sử dụng. Sau đó, H đồng ý mua 7.000.000đ (bảy triệu đồng) được 03 (ba) túi nilon thuốc nổ và 09 (chín) kíp nổ đã được gắn dây cháy chậm; Huynh mang số thuốc nổ, kíp nổ vô 01 bao nilon để vào thùng nhựa đậy nắp lại dấu dưới hầm tàu. Do ảnh hưởng áp thấp nhiệt đới và Bão N không đi khai thác được nên H giao tàu lại cho Nguyễn Đức H1 và Cao Sinh quản lý tàu.

Đến ngày 24/9/2024, theo cách hướng dẫn của người tên Đ, H lấy thuốc nổ cho vào nồi, giã thành dạng bột; dùng kéo cắt vỏ lon kim loại thành hai phần, lấy phần miệng lon cắt chỉ lấy phần nắp lon (phần cứng phía trên), cho thuốc nổ dạng bột vào phần đáy lon còn lại (khoảng 100gr), dùng 01 miếng nilon và phần nắp lon đậy lên gõ và đè chặt, dùng kéo cắt phần dư từ trên xuống đến phần nắp đã được đậy lại tạo thành các mảnh, dùng tay bẻ các mảnh đã cắt vào trong tạo thành chốt giữ chặt nắp lon, dùng công cụ bằng kim loại tác động xung quanh từ trên xuống dưới làm cho thuốc nổ chặt lại; dùng tua vít tạo một lỗ nhỏ bên hông gắn kíp nổ đã gắn dây cháy chậm vào để tạo thành 01 (một) trái nổ. Với cách thức như trên Huynh đã chế tạo được 29 trái nổ.

Đến khoảng 05 giờ, ngày 30/9/2024, Huynh quan sát qua máy dò cá, phát hiện có cá, H xuống hầm tàu lấy lên một trái nổ, một cây tua vít và vỏ đèn chớp có chứa 09 kíp nổ đã gắn dây cháy chậm lên cabin, dùng tua vít tạo một lỗ nhỏ trên thân trái nổ, lấy kíp nổ đã gắn dây cháy chậm vào, dùng bật lửa đốt dây cháy chậm rồi quăng xuống biển và kêu số ngư phủ dậy thả lưới bắt cá. Đến khoảng 7 giờ cùng ngày, quan sát phát hiện có cá, H tiếp tục xuống hầm tàu lấy 01 trái nổ khác lên cabin tàu châm lửa đốt ném xuống biển và kêu số ngư phủ thả lưới bắt cá. Qua 02 lần khai thác bằng trái nổ số lượng cá các loại được khoảng 450kg được xếp vào loại cá tạp, cá phân chỉ dùng cho việc nuôi trồng thủy sản nên giá chỉ 6.000đ/kg, Huynh gửi tàu (không nhớ số) vào bán cho chị L, thu được khoảng 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm nghìn đồng). Đến 9 giờ cùng ngày tổ tuần tra Đồn Biên phòng N1 tiến hành kiểm tra, khám xét thu giữ trên tàu của Huynh 03 (ba) túi nilon chất nổ, 27 (hai mươi bảy) trái nổ và 07 (bảy) kíp nổ đã gắn dây cháy chậm và nhiều công cụ, vật dụng khác.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

- 01 (một) tàu cá KH-01666-TS vỏ gỗ, composit bên ngoài, thân tàu sơn màu xanh da trời, viền màu sơn đỏ, cabin sơn màu vàng; chiều dài lớn nhất 14,35m, chiều rộng lớn nhất 3,70m, chiều cao mạn 1,45m.

- 01 (một) máy chính hiệu DAIYA 6MITSUBISHI, số máy 611778, nơi chế tạo: Nhật Bản (đã qua sử dụng), chiều dài 1,65m, rộng 57cm, đặt ở dưới hầm máy.

- 01 (một) máy quét hiệu 4INCH COLOR SONAR CSL-400 màu xám được cố định vào bảng giá sắt màu xanh dương gắn vào buồng lái (đã qua sử dụng), chiều cao 29cm, chiều rộng 28cm, chiều dài 13cm.

- 01 (một) máy dò cá hiệu FURUNO, mặt trước màu đen xám, được cố định trong hộp gỗ, bên ngoài hộp gỗ màu xanh dương gắn bên trong buồng lái (đã qua sử dụng), chiều cao 16cm, chiều rộng 20cm, chiều dài 24cm.

- 01 (một) máy định vị hiệu HGP-320 COLRCHARTPLOTTER màu xám, hình hộp cố định trên buồng lái (đã qua sử dụng) chiều dài 8cm, chiều rộng 17cm, chiều cao 9,9cm.

- 01 (một) máy ben bằng INOX gắn ở giữa trụ tàu bằng một thanh INOX dài 2m, có hai vòng tròn, mỗi vòng tròn đường kính 85cm.

- 02 (hai) máy bộ đàm, trong đó: 01 (một) máy đã hư hỏng, 01 (một) máy đã qua sử dụng, nhãn hiệu SUPERSTAP hình hộp màu đen được gắn vào buồng lái bằng giá gỗ màu xanh dương, chiều dài 23cm, chiều cao 6cm, chiều rộng 20cm.

- 02 (hai) máy khâu (đã qua sử dụng), trong đó: 01 (một) máy khâu màu đen nhãn hiệu PFAFF và 01 (một) máy khâu màu đen nhãn hiệu BUTTERFIY, chiều dài 38cm, chiều rộng 18cm, chiều cao 17cm, đặt ở phía sau phương tiện.

- 09 (chín) thùng nước màu xanh lá cây (đã qua sử dụng), chiều cao 85cm, đường kính 40cm, trong đó: 01 (một) thùng đặt trên nóc phía sau phương tiện, 02 (hai) thùng đặt ở phía trước phương tiện, 06 (sáu) thùng đặt ở dưới hầm máy.

- 01 (một) thùng đông lạnh màu da cam (đã qua sử dụng) được đặt ở phía dưới hầm máy, chiều dài 1,6m, chiều rộng 64cm, chiều cao 56cm.

- 01 (một) lưới đánh cá trên cùng là phao quấn quanh thành lưới, sau đó là lớp lưới màu xanh được may liền, tiếp theo là lớp lưới xanh lá cây, tiếp nối liền với các phao chì bằng dây thừng (đã qua sử dụng) chiều dài khoảng 160m, chiều rộng khoảng 80m.

- 03 (ba) túi nilon chứa tinh thể dạng rắn màu xám là thuốc nổ.

- 07 (bảy) ống kim loại màu trắng có gắn đoạn dây màu đen là kíp nổ đốt số 8 và dây cháy chậm.

- 27 (hai mươi bảy) lon nhôm bên trong có chứa chất bột rắn màu xám, là thuốc nổ.

- 02 (hai) bao tải màu cam; 01 (một) túi nilon màu đen; 01 (một) túi nilon màu xanh dương; 01 (một) giỏ chất liệu vải bố xách màu trắng; 01 (một) túi nilon màu xanh (bạc màu); 01 (một) túi nilon màu trắng; 01 (một) túi nilon màu vàng; 01 (một) bao tải màu trắng, có dòng chữ REFINED SUGER.

- 01 (một) đèn chớp có kích thước 25,5cm, thân phía dưới màu đỏ, đầu màu trắng trong, rỗng ruột.

- 01 (một) nồi inox có đường kính 26cm, chiều cao 14cm.

- 01 (một) thanh sắt hình tròn có cán dài 29,5cm, phía dưới thanh sắt có đường kính 10cm, phía trên có đường kính 2,3cm.

- 01 (một) cây kéo cán màu xanh dương dài 21cm.

- 01 (một) cây tua vít có cán màu vàng đục, cán hình trụ dài 10,5cm, đuôi dài 12,5cm, đầu có khe chữ thập.

- 01 (một) thùng nhựa loại đựng sơn màu đỏ

- 04 (bốn) lon nhôm đã bị cắt phần đầu, không xác định kích thước.

- 04 (bốn) nắp lon nhôm đã bị cắt phần đuôi, không xác định kích thước.

- 73 (bảy ba) lon nhôm cao 11cm, đường kính 5,3cm.

- 02 (hai) giấy chứng nhận đăng ký tàu cá KH-01666-TS số 402/09, do Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp ngày 27/4/2009 (bản photo công chứng).

- 02 (hai) giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá số 549/ĐKTCĐD do Trung tâm đăng kiểm tàu cá Đại Dương cấp ngày 29/4/2024 (bản photo công chứng).

- 02 (hai) giấy phép khai thác hải sản số 167/2022/KH-GPKTTS do Chi cục thủy sản tỉnh K cấp ngày 28/4/2024 (bản photo công chứng).

- Sổ đăng kiểm tàu cá KH-01666-TS (bản chính).

- Giấy chứng nhận bảo hiểm tai nạn thuyền viên số 0001976 (bản gốc).

- Biên bản kiểm tra xuất bến ngày 05/7/2024.

- Sổ nhật ký khai thác thủy sản (bản gốc).

- 01 (một) hóa đơn giá trị gia tăng dịch vụ đăng kiểm (bản photo).

- 01 (một) sổ danh bạ thuyền viên tàu cá KH-01666-TS (bản gốc).

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký tàu cá KH-01666-TS số 402/09, do Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp ngày 27/4/2009 (bản gốc).

- 01 (một) chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá hạng tư số 0024769.

- 01 (một) bản cam kết chấp hành các quy định của pháp luật khi ra, vào, hoạt động trên biển.

* Tại Kết luận giám định số: 6083/KL-KTHS ngày 04/10/2024 Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh của Bộ C kết luận:

- 02 (hai) túi nilon chứa tinh thể dạng rắn màu xám (ký hiệu TV1) gửi giám định là thuốc nổ Tritonal, thành phần chính gồm thuốc nổ TNT (Trinitrotoluen) và A (bột nhôm). Thuốc nổ T1 là vật liệu nổ quân sự thường được nhồi trong bom, mìn, đạn pháo, đạn cối, thủy lôi… Khối lượng là 9,1 Kg.

- 01 (một) túi nilon chứa tinh thể dạng rắn màu xám (ký hiệu TV3) gửi giám định là thuốc nổ Tritonal, thành phần chính gồm thuốc nổ TNT (Trinitrotoluen) và A (bột nhôm). Thuốc nổ T1 là vật liệu nổ quân sự thường được nhồi trong bom, mìn, đạn pháo, đạn cối, thủy lôi… Khối lượng là 1,5 Kg.

- 01 (một) bì thư bên trong có chứa 07 (bảy) ống kim loại màu trắng có gắn đoạn dây màu đen (trong đó: có 06 đoạn dây được quấn băng keo màu xanh; 01 đoạn được quấn băng keo màu đen) (ký hiệu là TV2) gửi giám định là kíp nổ đốt số 8 vỏ nhôm và dây cháy chậm.

- 27 (hai mươi bảy) lon nhôm bên trong có chứa chất bột rắn màu xám (ký hiệu TV4) gửi giám định là thuốc nổ Tritonal, thành phần chính gồm thuốc nổ TNT (Trinitrotoluen) và A (bột nhôm). Thuốc nổ T1 là vật liệu nổ quân sự thường được nhồi trong bom, mìn, đạn pháo, đạn cối, thủy lôi… Khối lượng là 2,2kg (Bút lục số: 92, 93)

Tại bản Cáo trạng số: 50/CT-VKS.P1 ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phan Văn H về tội “Mua bán, chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ” quy định tại đểm b khoản 2 Điều 305 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H và nhận định: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Nhà nước, đồng thời còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm.

- Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên đối với hành vi sử dụng trái phép vật liệu nổ.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự khai nhận hành vi sử dụng trái phép vật liệu nổ; gia đình có công với cách mạng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự…

Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 305, điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Phan Văn H mức án từ 04 đến 05 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo Cáo trạng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi bị truy tố của bị cáo:

Vào ngày 27/6/2024, tàu của Phan Văn H trên đường đến vùng biển M, C thuộc huyện N, tỉnh Ninh Thuận neo đậu, H có mua 03 (ba) túi nilon thuốc nổ và 09 (chín) kíp nổ đã được gắn dây cháy chậm với giá 7.000.000 đồng. Ngày 24/9/2024, H mang thuốc nổ ra chế tạo được 29 trái nổ. Đến ngày 30/9/2024 H mang trái nổ ra khai thác hải sản 02 lần, thu được khoảng 450kg cá các loại, bán được số tiền 2.900.000 đồng thì bị bắt quả tang thu giữ 03 túi nylon chứa thuốc nổ và 27 trái nổ, qua giám định là thuốc nổ TNT (T) và A (bột nhôm). Thuốc nổ T1 là vật liệu nổ quân sự thường được nhồi trong bom, mìn, đạn pháo, đạn cối, thủy lôi… có khối lượng là 12,8kg. Do đó, đủ cơ sở để HĐXX kết luận: Hành vi của bị cáo Phan Văn H đã phạm vào tội “Mua bán, chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ” quy định tại đểm b khoản 2 Điều 305 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về vật liệu nổ, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo chế tạo bom mìn để đánh bắt hải sản còn gây hậu quả lớn đối với tài nguyên biển, ảnh hưởng tới hệ sinh thái biển. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm.

Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên đối với hành vi sử dụng trái phép vật liệu nổ nên bị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự làm tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự khai nhận hành vi sử dụng trái phép vật liệu nổ; gia đình có công với cách mạng, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính; hoàn cảnh gia đình hiện đang gặp khó khăn, bản thân là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo, đồng thời áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt cũng đủ nghiêm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Viện kiểm sát đã đánh giá đúng tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng cho bị cáo là phù hợp nên chấp nhận. Tuy nhiên, mức án Viện kiểm sát đề nghị có phần hơi nghiêm nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo so với đề nghị của Viện kiểm sát nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nước ta.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Đối với các vật chứng gồm:

- 01 (một) tàu cá KH-01666-TS vỏ gỗ, composit bên ngoài, thân tàu sơn màu xanh da trời, viền màu sơn đỏ, cabin sơn màu vàng; chiều dài lớn nhất 14,35m, chiều rộng lớn nhất 3,70m, chiều cao mạn 1,45m.

- 01 (một) máy chính hiệu DAIYA 6MITSUBISHI, số máy 611778, nơi chế tạo: Nhật Bản (đã qua sử dụng), chiều dài 1,65m, rộng 57cm, đặt ở dưới hầm máy.

- 01 (một) máy quét hiệu 4INCH COLOR SONAR CSL-400 màu xám được cố định vào bảng giá sắt màu xanh dương gắn vào buồng lái (đã qua sử dụng), chiều cao 29cm, chiều rộng 28cm, chiều dài 13cm.

- 01 (một) máy dò cá hiệu FURUNO, mặt trước màu đen xám, được cố định trong hộp gỗ, bên ngoài hộp gỗ màu xanh dương gắn bên trong buồng lái (đã qua sử dụng), chiều cao 16cm, chiều rộng 20cm, chiều dài 24cm.

- 01 (một) máy định vị hiệu HGP-320 COLRCHARTPLOTTER màu xám, hình hộp cố định trên buồng lái (đã qua sử dụng) chiều dài 8cm, chiều rộng 17cm, chiều cao 9,9cm.

- 01 (một) máy ben bằng Inox gắn ở giữa trụ tàu bằng một thanh Inox dài 2m, có hai vòng tròn, mỗi vòng tròn đường kính 85cm.

- 02 (hai) máy bộ đàm, trong đó: 01 (một) máy đã hư hỏng, 01 (một) máy đã qua sử dụng, nhãn hiệu SUPERSTAP hình hộp màu đen được gắn vào buồng lái bằng giá gỗ màu xanh dương, chiều dài 23cm, chiều cao 6cm, chiều rộng 20cm.

- 01 (một) lưới đánh cá trên cùng là phao quấn quanh thành lưới, sau đó là lớp lưới màu xanh được may liền, tiếp theo là lớp lưới xanh lá cây, tiếp nối liền với các phao chì bằng dây thừng (đã qua sử dụng) chiều dài khoảng 160m, chiều rộng khoảng 80m. (theo Lệnh nhập kho số: 133 ngày 07/10/2024)

- Kèm theo gồm có các tài liệu có liên quan gồm:

+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký tàu cá KH-01666-TS số 402/09, do Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp ngày 27/4/2009 (bản chính).

+ 02 (hai) giấy chứng nhận đăng ký tàu cá KH-01666-TS số 402/09, do Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp ngày 27/4/2009 (bản photo công chứng).

+ 02 (hai) giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá số 549/ĐKTCĐD do Trung tâm đăng kiểm tàu cá Đại Dương cấp ngày 29/4/2024 (bản photo công chứng).

Xét thấy, các vật chứng này là những công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

* Tịch thu giao các cơ quan chức năng tiêu hủy gồm:

- 03 (ba) túi nilon chứa tinh thể dạng rắn màu xám là thuốc nổ.

- 07 (bảy) ống kim loại màu trắng có gắn đoạn dây là kíp nổ đốt số 8 và dây cháy chậm.

- 27 (hai mươi bảy) lon nhôm bên trong có chứa chất bột rắn màu xám, là thuốc nổ.

- 01 (một) thùng nhựa loại đựng sơn màu đỏ; 02 (hai) bao tải màu cam; 01 (một) túi nilon màu đen; 01 (một) túi nilon màu xanh dương; 01 (một) giỏ chất liệu vải bố xách màu trắng; 01 (một) bao tải màu trắng, có dòng chữ REFINED SUGER; 01 (một) túi nilon màu xanh (bạc màu); 01 (một) túi nilon màu trắng; 01 (một) túi nilon màu vàng.

01 (một) vỏ đèn chớp có kích thước 25,5cm, thân phía dưới màu đỏ, đầu màu trắng trong, rỗng ruột.

- 01 (một) nồi inox có đường kính 26cm, chiều cao 14cm.

- 01 (một) thanh sắt hình tròn có cán dài 29,5cm, phía dưới thanh sắt có đường kính 10cm, phía trên có đường kính 2,3cm.

- 01 (một) cây kéo cán màu xanh dương dài 21cm.

- 01 (một) cây tua vít có cán màu vàng đục, cán hình trụ dài 10,5cm, đuôi dài 12,5cm, đầu có khe chữ thập.

- 04 (bốn) lon nhôm đã bị cắt phần đầu, không xác định kích thước.

- 04 (bốn) nắp lon nhôm đã bị cắt phần đuôi, không xác định kích thước.

- 73 (bảy ba) lon nhôm cao 11cm, đường kính 5,3cm.

- 01 (một) bản cam kết về việc khai thác hải sản của Phan Văn H.

* Trả lại cho bị cáo:

- 01 (một) chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá hạng tư số 0024769.

- 01 (một) thùng đông lạnh màu da cam (đã qua sử dụng) được đặt ở phía dưới hầm máy, chiều dài 1,6m, chiều rộng 64cm, chiều cao 56cm.

- 02 (hai) máy khâu (đã qua sử dụng), trong đó: 01 (một) máy khâu màu đen nhãn hiệu PFAFF và 01 (một) máy khâu màu đen nhãn hiệu BUTTERFIY, chiều dài 38cm, chiều rộng 18cm, chiều cao 17cm, đặt ở phía sau phương tiện.

- 09 (chín) thùng nước màu xanh lá cây (đã qua sử dụng), chiều cao 85cm, đường kính 40cm.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn H phạm tội “Mua bán, chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 305, điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H – 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/9/2024.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

* Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước gồm:

- 01 (một) tàu cá KH-01666-TS vỏ gỗ, composit bên ngoài, thân tàu sơn màu xanh da trời, viền màu sơn đỏ, cabin sơn màu vàng; chiều dài lớn nhất 14,35m, chiều rộng lớn nhất 3,70m, chiều cao mạn 1,45m.

- 01 (một) máy chính hiệu DAIYA 6MITSUBISHI, số máy 611778, nơi chế tạo: Nhật Bản (đã qua sử dụng), chiều dài 1,65m, rộng 57cm, đặt ở dưới hầm máy.

- 01 (một) máy quét hiệu 4INCH COLOR SONAR CSL-400 màu xám được cố định vào bảng giá sắt màu xanh dương gắn vào buồng lái (đã qua sử dụng), chiều cao 29cm, chiều rộng 28cm, chiều dài 13cm.

- 01 (một) máy dò cá hiệu FURUNO, mặt trước màu đen xám, được cố định trong hộp gỗ, bên ngoài hộp gỗ màu xanh dương gắn bên trong buồng lái (đã qua sử dụng), chiều cao 16cm, chiều rộng 20cm, chiều dài 24cm.

- 01 (một) máy định vị hiệu HGP-320 COLRCHARTPLOTTER màu xám, hình hộp cố định trên buồng lái (đã qua sử dụng) chiều dài 8cm, chiều rộng 17cm, chiều cao 9,9cm.

- 01 (một) máy ben bằng Inox gắn ở giữa trụ tàu bằng một thanh Inox dài 2m, có hai vòng tròn, mỗi vòng tròn đường kính 85cm.

- 02 (hai) máy bộ đàm, trong đó: 01 (một) máy đã hư hỏng, 01 (một) máy đã qua sử dụng, nhãn hiệu SUPERSTAP hình hộp màu đen được gắn vào buồng lái bằng giá gỗ màu xanh dương, chiều dài 23cm, chiều cao 6cm, chiều rộng 20cm.

- 01 (một) lưới đánh cá trên cùng là phao quấn quanh thành lưới, sau đó là lớp lưới màu xanh được may liền, tiếp theo là lớp lưới xanh lá cây, tiếp nối liền với các phao chì bằng dây thừng (đã qua sử dụng) chiều dài khoảng 160m, chiều rộng khoảng 80m. (theo Lệnh nhập kho số: 133 ngày 07/10/2024)

- Kèm theo gồm có các tài liệu có liên quan gồm:

+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký tàu cá KH-01666-TS số 402/09, do Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp ngày 27/4/2009 (bản chính).

+ 02 (hai) giấy chứng nhận đăng ký tàu cá KH-01666-TS số 402/09, do Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp ngày 27/4/2009 (bản photo công chứng).

+ 02 (hai) giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá số 549/ĐKTCĐD do Trung tâm đăng kiểm tàu cá Đại Dương cấp ngày 29/4/2024 (bản photo công chứng).

* Tịch thu giao các cơ quan chức năng tiêu hủy gồm:

- 03 (ba) túi nilon chứa tinh thể dạng rắn màu xám là thuốc nổ.

- 07 (bảy) ống kim loại màu trắng có gắn đoạn dây là kíp nổ đốt số 8 và dây cháy chậm.

- 27 (hai mươi bảy) lon nhôm bên trong có chứa chất bột rắn màu xám, là thuốc nổ.

- 01 (một) thùng nhựa loại đựng sơn màu đỏ; 02 (hai) bao tải màu cam; 01 (một) túi nilon màu đen; 01 (một) túi nilon màu xanh dương; 01 (một) giỏ chất liệu vải bố xách màu trắng; 01 (một) bao tải màu trắng, có dòng chữ REFINED SUGER; 01 (một) túi nilon màu xanh (bạc màu); 01 (một) túi nilon màu trắng; 01 (một) túi nilon màu vàng.

01 (một) vỏ đèn chớp có kích thước 25,5cm, thân phía dưới màu đỏ, đầu màu trắng trong, rỗng ruột.

- 01 (một) nồi inox có đường kính 26cm, chiều cao 14cm.

- 01 (một) thanh sắt hình tròn có cán dài 29,5cm, phía dưới thanh sắt có đường kính 10cm, phía trên có đường kính 2,3cm.

- 01 (một) cây kéo cán màu xanh dương dài 21cm.

- 01 (một) cây tua vít có cán màu vàng đục, cán hình trụ dài 10,5cm, đuôi dài 12,5cm, đầu có khe chữ thập.

- 04 (bốn) lon nhôm đã bị cắt phần đầu, không xác định kích thước.

- 04 (bốn) nắp lon nhôm đã bị cắt phần đuôi, không xác định kích thước.

- 73 (bảy ba) lon nhôm cao 11cm, đường kính 5,3cm.

- 01 (một) bản cam kết về việc khai thác hải sản của Phan Văn H.

* Trả lại cho bị cáo:

- 01 (một) chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá hạng tư số 0024769.

- 01 (một) thùng đông lạnh màu da cam (đã qua sử dụng) được đặt ở phía dưới hầm máy, chiều dài 1,6m, chiều rộng 64cm, chiều cao 56cm.

- 02 (hai) máy khâu (đã qua sử dụng), trong đó: 01 (một) máy khâu màu đen nhãn hiệu PFAFF và 01 (một) máy khâu màu đen nhãn hiệu BUTTERFIY, chiều dài 38cm, chiều rộng 18cm, chiều cao 17cm, đặt ở phía sau phương tiện.

- 09 (chín) thùng nước màu xanh lá cây (đã qua sử dụng), chiều cao 85cm, đường kính 40cm.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 39 ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

* Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ