vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nguyễn Khánh B 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/01/2025.

Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại Samsung màu trắng, số IMEI: 357625/696287/8 (đã qua sử dụng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khánh B - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Khánh B 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/01/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật phí và lệ phí và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày: 05/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh .

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Đạt;

2. Bà Võ Thị Phương Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hoàng Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 8 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2025/HSST ngày 12 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2025/QĐXXST-HS ngày 09/6/2025 và Thông báo về việc dời ngày xét xử số: 05/2025/TB-TA ngày 08/7/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Khánh B, sinh năm 2002 tại tỉnh Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long); giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long); nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị T (đã chết); chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2025 cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Cao Kim K, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang) - vắng mặt;

2. Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (nay là xã V, Thành phố Cần Thơ) - vắng mặt;

3. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Số I đường N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) - vắng mặt;

4. Ông Phạm Văn H2, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A khu phố C, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) - vắng mặt;

5. Bà Bùi Thị V, sinh năm 1965; địa chỉ: Số A đường B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) - vắng mặt;

6. Bà Võ Thị M, sinh năm 1971; địa chỉ: Số I đường D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) - vắng mặt;

7. Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1984; địa chỉ: Số D đường H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) - vắng mặt;

8. Bà Đinh Thị Thu N, sinh năm 1986; địa chỉ: Số H đường H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) - vắng mặt;

9. Ông Đường Hoàng H3, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A đường N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) - vắng mặt;

10. Bà Lê Thị Hồng G, sinh năm 1980; địa chỉ: Số B tổ A, khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10 năm 2022, Lê Tiến D (chưa rõ nhân thân lai lịch) mở điểm kinh doanh trò chơi điện tử, thực chất là cho người chơi đánh bạc dưới hình thức chơi game điện tử thắng thua bằng điểm, sau đó đổi điểm ăn thua bằng tiền mặt. Địa điểm tại địa chỉ số I G, phường P, Quận G (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh). D thuê Đặng Hoàng V1 làm nhân viên quản lý; Nguyễn Khánh B và Nguyễn Lê Thảo N1 làm nhân viên lên điểm cho khách; Cao Kim K làm nhân viên bảo vệ, giữ xe và Đỗ Văn T1 làm nhân viên bưng nước, thức ăn cho khách. Hằng ngày, V1 nhận thẻ lên điểm từ D, sau đó giao thẻ lên điểm cho B và N1 để lên điểm cho khách. Khi khách có yêu cầu đổi điểm ra thành tiền mặt thì V1, B, N1 sẽ đổi cho khách. Tại tiệm kinh doanh trò chơi điện từ có đặt 03 máy game:

- 02 máy long hổ xanh đỏ, có thiết kế 03 màu xanh, đỏ, vàng để khách tham gia đặt cược số điểm trên máy, nếu đặt vào màu xanh sẽ ăn thua theo tỷ lệ 1:1, nếu đặt vào màu đó sẽ ăn thua theo tỷ lệ 1:1, nếu đặt vào màu vàng sẽ ăn thua theo tỷ lệ 1:12. Máy được thiết kế cho 08 người cùng chơi và kết quả hiển thị trên màn hình cùng một lúc cho 08 người chơi. Khi kết quả ván cược hiển thị trùng với kết quả khách đặt thì khách trúng thưởng, điểm thưởng sẽ được cộng vào điểm trên màn hình máy của khách. Nếu kết quả hiển thị không trùng với kết quả khách đặt thì khách thua, điểm của khách sẽ bị trừ vào điểm trên màn hình máy của khách. Lê Tiến D quy định máy long hổ xanh đỏ 01 điểm tương đương với 1.000 đồng, khách có nhu cầu đổi 100 điểm thì được số tiền 100.000 đồng.

- 01 máy ngọc hoàng có chứa biểu tượng là các con thú, nhân vật trong Tây Du K1 như: con khỉ, tam tạng, con trâu, sa tăng, bát giới, mỗi loại có 02 màu xanh, đỏ. Khách tham gia đặt cược bằng cách cược số điểm trên máy theo tỷ lệ từ thấp đến cao lần lượt là: bát giới, sa tăng, con trâu, tam tạng, con khỉ (tỷ lệ thay đổi theo từng ván cược). Khi kết quả ván cược hiển thị trùng với kết quả của khách đặt thì khách trúng thưởng, điểm thưởng sẽ được cộng vào điểm trên màn hình máy của khách. Nếu kết quả ván cược không trùng với kết quả của khách đặt thì khách thua, điểm của khách sẽ bị trừ vào điểm trên màn hình máy của khách. Lê Tiến D quy định máy ngọc hoàng 01 điểm tương đương với 100 đồng, khách có nhu cầu đổi 100 điểm thì được số tiền 10.000 đồng.

Vào lúc 20 giờ 50 phút, ngày 19/10/2022, Đ Công an Q phối hợp với Công an phường P, Quận G tiến hành kiểm tra hành chính tiệm kinh doanh trò chơi điện tử tại địa chỉ I G, phường P, Quận G (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), phát hiện 07 khách đang chơi game trên 02 máy (long hổ và ngọc hoàng). Cụ thể:

- Máy long hổ có 04 người chơi gồm: Nguyễn Văn H1, Phạm Văn H2, Bùi Thị V, Võ Thị M. Tổng số điểm đang hiển thị trên máy chơi là 2.925 điểm tương đương 2.925.000 đồng.

- Máy ngọc hoàng có 03 người chơi gồm: Nguyễn Ngọc T2, Đình Thị Thu N2, Đường Hoàng H3. Tổng số điểm đang hiển thị trên máy chơi là 36.490 điểm tương đương 3.649.000 đồng.

Tại Cơ quan Công an, Đặng Hoàng V2, Nguyễn Lê Thảo N1 và Nguyễn Khánh B khai nhận: Vào ngày 19/10/2022, tại tiệm kinh doanh trò chơi điện tử tại địa chỉ I G, phường P, Quận G (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), Đặng Hoàng V1 với vai trò quản lý, Nguyễn Lê Thảo N1 và Nguyễn Khánh B với vai trò nhân viên lên điểm đã lên điểm cho 07 khách chơi trên 02 máy game điện tử để chơi game, số điểm sẽ được quy đổi ra bằng tiền theo quy ước như trên.

- Nguyễn Văn H1 khai: H1 mua 500 điểm tương đương 500.000 đồng của máy long hổ. Tại thời điểm Công an kiểm tra, H1 đang thắng và có 825 điểm tương đương 825.000 đồng. Công an tạm giữ của H1 1.500.000 đồng. H1 khai nhận sẽ dùng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền H1 dùng để đánh bạc là 2.325.000 đồng.

- Phạm Văn H2 khai: Hưởng mua 500 điểm tương đương 500.000 đồng của máy long hổ. Tại thời điểm Công an kiểm tra, H2 đang thua và có 400 điểm tương đương 400.000 đồng. Tổng số tiền H2 dùng để đánh bạc là 500.000 đồng.

- Bùi Thị V khai: Vui mua 700 điểm tương đương 700.000 đồng của máy long hổ. Tại thời điểm Công an kiểm tra, V đang thắng và có 900 điểm tương đương 900.000 đồng. Tổng số tiền V dùng để đánh bạc là 900.000 đồng.

- Võ Thị M khai: M mua 500 điểm tương đương 500.000 đồng của máy long hổ. Tại thời điểm Công an kiểm tra, M đang thắng và có 800 điểm tương đương 800.000 đồng. Công an tạm giữ của M số tiền 800.000 đồng. M khai sẽ dùng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền M dùng để đánh bạc là 1.600.000 đồng.

- Nguyễn Ngọc T2 khai: Thạch mua 5000 điểm tương đương 500.000 đồng của máy ngọc hoàng. Tại thời điểm Công an kiểm tra, T2 đang thắng và có 29.000 điểm tương đương số tiền 2.900.000 đồng. Công an tạm giữ của T2 số tiền 1.100.000 đồng. T2 khai sẽ dùng số tiền 1.100.000 đồng dùng để đánh bạc. Tổng số tiền T2 dùng để đánh bạc là 4.000.000 đồng.

- Đinh Thị Thu N khai: N mua 1000 điểm tương đương 100.000 đồng của máy ngọc hoàng. Tại thời điểm Công an kiểm tra, N đang thắng và có 1.790 điểm tương đương 179.000 đồng. Công an tạm giữ của N số tiền 130.000 đồng. N khai sẽ dùng số tiền 130.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền N dùng để đánh bạc là 309.000 đồng.

- Đường Hoàng H3 khai: H3 mua 5000 điểm tương đương 500.000 đồng của máy ngọc hoàng. Tại thời điểm Công an kiểm tra, H3 đang thắng và có 5.700 điểm tương đương 570.000 đồng. Số tiền H3 dùng để đánh bạc là 570.000 đồng và đang thắng 70.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền 04 người chơi dùng để đánh bạc trên máy long hổ là 5.325.000 đồng và tổng số tiền 03 người chơi dùng để đánh bạc trên máy ngọc hoàng là 4.879.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Đặng Hoàng V1, Nguyễn Lê Thảo N1 và Nguyễn Khánh B là 10.204.000 đồng, trong đó bao gồm 6.830.000 đồng là tiền 07 người chơi bỏ ra để mua điểm và tiền người chơi sẽ dùng để đánh bạc; 3.374.000 đồng là tiền người chơi thắng, các bị cáo phải thanh toán.

Bản án số 69/2024/HSST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử Đặng Hoàng V1 và Nguyễn Lê Thảo N1 về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Khánh B bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định truy nã số 04/QĐTN-CSĐT(HS) ngày 15/8/2023, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can số 03/QĐ – CSĐT (HS) ngày 20/8/2023, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can số 04/QĐ – CSĐT (HS) ngày 20/8/2023. Ngày 25/01/2025, bị cáo Nguyễn Khánh B bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q lập biên bản bắt người theo quyết định truy nã, phục hồi điều tra vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Khánh B.

Các vật chứng thu giữ gồm:

- Thu giữ của Đặng Hoàng V1:

+ 01 (một) máy chơi game điện tử màu đỏ, có kích thước 2,2m x 1,6m x 0,6m, bên trong có hộp kính (đã qua sử dụng);

+ 01 (một) máy chơi game điện tử màu đen, có kích thước 2,8m x 1,9m x 0,6m (đã qua sử dụng);

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X (đã qua sử dụng);

+ Số tiền 2.700.000 đồng (là tiền đối tượng Lê Tiến D đưa để chi tiêu tại tiệm kinh doanh trò chơi điện tử).

- Thu giữ của Nguyễn Lê Thảo N1:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, màu vàng gold (đã qua sử dụng).

- Thu giữ của bị cáo Nguyễn Khánh B:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, số IMEI: 357625/696287/8 (đã qua sử dụng);

+ Số tiền 1.170.000 đồng, là tiền tiêu xài cá nhân.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển số tiền 3.870.000 đồng (thu giữ của Đặng Hoàng V1 và Nguyễn Khánh B) vào tài khoản số 6160431101100070 của Công an Q tại mở tại Ngân hàng N3 (A1).

- Thu giữ của Nguyễn Văn H1:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A70 màu trắng, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) Phiếu đổi điểm số A002538 và số tiền 1.500.000 đồng, là tiền dùng để đánh bạc.

- Thu giữ của Phạm Văn H2:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) phiếu đổi điểm số A002554;

+ Số tiền 6.500.000 đồng, là tiền tiêu xài cá nhân.

- Thu giữ của Bùi Thị V:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A31 đã qua sử dụng;

+ Số tiền 1.100.000 đồng, là tiền tiêu xài cá nhân.

- Thu giữ của Võ Thị M:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A71, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) phiếu đổi điểm A002553;

+ Số tiền 800.000 đồng, là tiền dùng để đánh bạc.

- Thu giữ của Nguyễn Ngọc T2:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen, đã qua sử dụng

+ Số tiền 1.100.000 đồng, là tiền dùng để đánh bạc.

- Thu giữ của Đình Thị Thu N2:

+ Số tiền 130.000 đồng, là tiền dùng để đánh bạc.

- Thu giữ của Đường Hoàng H3:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đen, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) phiếu đổi điểm số A002557;

+ Số tiền 120.000 đồng, là tiền tiêu xài cá nhân.

Các vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn H1, Phạm Văn H2, Bùi Thị V, Võ Thị M, Nguyễn Ngọc T2, Đinh Thị Thu N, Đường Hoàng H3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển Công an phường P, Quận G để xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ nên không xét.

Các vật chứng thu giữ của Đặng Hoàng V1 và Nguyễn Lê Thảo N1 đã được xử lý tại Bản án số: 69/2024/HSST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các vật chứng thu giữ của Nguyễn Khánh B đang được tiếp tục tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7 (nay là Thi hành án dân sự Hồ Chí Minh – Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bản Cáo trạng số: 111/CT-VKSQ7 ngày 12/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh) đã truy tố bị cáo Nguyễn Khánh B về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Khánh B đã thừa nhận hành vi đánh bạc

bằng hình thức chơi game điện tử thắng thua bằng điểm, sau đó đổi điểm ăn thua bằng tiền mặt là vi phạm pháp luật. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

Trong phần tranh luận, sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, cùng với các tài liệu chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; phân tích tính chất, vai trò và hậu quả của vụ án đối với xã hội, nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh) vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Khánh B về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38, điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh B từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, những chứng cứ, tài liệu của vụ án được thu thập trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo và tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận:

Vào ngày 19/10/2022, tại tiệm K2 điện tử địa chỉ 99 G, phường P, Quận G (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), Đặng Hoàng V1, Nguyễn Lê Thảo N1 cùng bị cáo Nguyễn Khánh B thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc cho Nguyễn Văn H1, Phạm Văn H2, Bùi Thị V, Võ Thị M, Nguyễn Ngọc T2, Đinh Thị Thu N, Đường Hoàng H3 bằng hình thức chơi game điện tử tính điểm, thắng thua được quy đổi điểm ăn thua ra bằng tiền mặt. Tổng số tiền đánh bạc và dùng để đánh bạc là 10.204.000 đồng (trong đó bao gồm 6.830.000 đồng là tiền người chơi đã mua điểm và tiền người chơi sẽ dùng để đánh bạc và 3.374.000 đồng là tiền người chơi thắng, bị cáo phải thanh toán). Hành vi của bị cáo Nguyễn Khánh B cấu thành tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hồ Chí Minh) truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.

Bị cáo phạm tội do tham lam tư lợi. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Tệ nạn cờ bạc là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác đồng thời gây ảnh hưởng xấu về mặt gia đình. Để đấu tranh phòng và chống tệ nạn cờ bạc, giữ gìn trật tự công cộng, xét cần phải xử lý nghiêm bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.

4 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Khánh B bỏ trốn, bị bắt truy nã. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về vật chứng vụ án:

Các vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn H1, Phạm Văn H2, Bùi Thị V, Võ Thị M, Nguyễn Ngọc T2, Đinh Thị Thu N, Đường Hoàng H3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển Công an phường P, Quận G để xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ nên không xem xét.

Các vật chứng thu giữ của Đặng Hoàng V1 và Nguyễn Lê Thảo N1 đã được xử lý tại Bản án số: 69/2024/HSST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các vật chứng thu giữ của bị cáo Nguyễn Khánh B:

+ 01 (một) điện thoại Samsung màu trắng, số IMEI: 357625/696287/8 (đã qua sử dụng). Bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên xét trả lại cho bị cáo.

+ Số tiền 1.170.000 đồng, là tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên xét trả lại cho bị cáo.

Đối với Đặng Hoàng V1 và Nguyễn Lê Thảo N1 đã được xét xử tại bản án số 69/2024/HSST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với Nguyễn Văn H1, Phạm Văn H2, Bùi Thị V, Võ Thị M, Nguyễn Ngọc T2, Đinh Thị Thu N, Đường Hoàng H3, các đối tượng độc lập từng người đành bạc với Đặng Hoàng V1, Nguyễn Lê Thảo N1 và Nguyễn Khánh B, không trực tiếp đánh bạc với nhau. Số tiền dùng để đánh bạc của từng người chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q lập hồ sơ chuyển Công an phường P, Quận G xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là có căn cứ nên không xét.

Đối với Cao Kim K, Đỗ Văn T1 là các nhân viên bảo vệ, giữ xe và bưng nước, thức ăn cho khách không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý là có căn cứ.

Đối với bà Lê Thị Hồng G cho Nguyễn Khánh B thuê nhà tại địa chỉ số I G, phường P, Quận G (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), không biết các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý là có căn cứ.

Đối với Lê Tiến D (không rõ nhân thân lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra, làm rõ nên có căn cứ xử lý sau.

7 Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

8 Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 38, điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Khánh B 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/01/2025.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

Trả lại cho bị cáo:

+ 01 (một) điện thoại Samsung màu trắng, số IMEI: 357625/696287/8 (đã qua sử dụng).

+ Số tiền 1.170.000 đồng.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 044 ngày 12/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7 và Lệnh thanh toán ngày 29/11/2023 vào tài khoản số 6160431101100070 của Công an Q mở tại Ngân hàng N3).

3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ