vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Huế, TP. Huế Tuyên án 19/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - HUẾ
THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày: 19-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Ly.

Các Hội thẩm Nhân dân:

1. Ông Hồ Lâm Phúc.

2. Bà Hoàng Thị Thương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án Nhân dân khu vực 2 - Huế, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân khu vực 2 - Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Bá Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án Nhân dân khu vực 2 - Huế, thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai, trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 11/7/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 04/8/2025 đối với bị cáo: Trần Văn H (Tên gọi khác: Lượm), sinh ngày 16/7/1992 tại thành phố Huế.

Nơi thường trú: Số 135 đường Lợi Nông, tổ dân phố 02, phường Hương Thuỷ, thành phố H(Trước đây là phường Thuỷ Châu, thị xã Hương Thuỷ, thành phố H). Chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ 19, khu vực 07, phường An Cựu, thành phố H (Trước đây là phường An Đông, quận Thuận Hoá, thành phố H); nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá: Lớp 8/12, dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam. Căn cước công dân số: 046092008960. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an. Con ông Trần Đ và bà Dương Thị T; có vợ tên Nguyễn Thị L và 06 người con.

Tiền án: Bị cáo Trần Văn H có 01 tiền án ngày 29/12/2017 bị Tòa án Nhân dân thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 01 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2017/HS-ST; bị cáo Trần Văn H kháng cáo. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 51/2018/HS-PT ngày 02/4/2018, Toà án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên Bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 năm 01 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; bị cáo Trần Văn H chưa chấp hành xong phần án phí hình sự.

Tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/7/2015, bị Trưởng Công an thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên H xử phạt 2.000.000đ về hành vi “Hủy hoại tài sản người khác" theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 000808/QĐ-XPHC; ngày 27/12/2019, bị Trưởng Công an xã Hương Hữu, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên H xử phạt 750.000đ về hành vi “Gây rối trật tự công cộng" theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 01/QĐ-XPHC.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 30/3/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực Thuận Hoá - Phú Xuân, thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 29/3/2025, bị cáo Trần Văn H do muốn có chất ma túy để sử dụng nên thuê xe thồ đi đến đoạn bờ hồ đường Trần Huy Liệu, phường Đông B (Nay là phường Phú X), thành phố Huế gặp 01 người nam thanh niên tên Trần Văn Quốc đang đứng gần quán tạp hóa phía đường Phan Đăng Lưu hỏi mua 03 viên ma túy, loại hồng phiến, mỗi viên 30.000đ, tổng cộng với giá 90.000đ.

Sau khi mua xong thì bị cáo Trần Văn H đi bộ tìm nơi để sử dụng; đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, khi bị cáo Trần Văn H đang đi trên đường Chương Dương (phía sau lưng chợ Đông B) thuộc địa bàn phường Phú X, thành phố H thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra về tội phạm Công an thành phố Huế phát hiện thu giữ trong túi quần Jean bên phải phía trước của bị cáo Trần Văn H đang mặc 01 gói nilông màu vàng, bên trong có 03 viên nén hình trụ tròn màu đỏ. Bị cáo Trần Văn H khai nhận đó là chất ma túy mua với mục đích để sử dụng. Sau khi bắt quả tang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế tiếp tục khám xét nơi ở của bị cáo Trần Văn H, nhưng không tạm giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

* Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế tạm giữ gồm: 01 gói nilông màu vàng, bên trong có 03 viên nén hình trụ tròn màu đỏ.

Tại kết luận giám định số: 195/KL-KTHS ngày 04/4/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Huế xác định: 03 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ có khối lượng là 0,2623g (Không phẩy hai sáu hai ba gam) là chất ma túy, loại Methamphetamine.

* Về xử lý vật chứng: Số chất ma túy còn lại sau khi giám định là 0,1123g mẫu bột được nghiền từ 03 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định đã được niêm phong.

Tại Quyết định số: 04/QĐ-VKSTPH-P1 ngày 25/6/2025, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát Nhân dân quận Phú Xuân, thành phố Huế (Hiện nay là Viện kiểm sát Nhân dân khu vực 2 - Huế) để truy tố theo đúng thẩm quyền.

Tại bản Cáo trạng số: 62/CT-VKSKV2 ngày 09/7/2025, Viện kiểm sát Nhân dân khu vực 2 - H truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân khu vực 2 - H giữ nguyên bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn H mức hình phạt từ 01 năm tù đến 01 năm 3 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (Ngày 30/3/2025).

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Văn H.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 0,1123g mẫu bột được nghiền từ 03 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000đ.

Ý kiến tranh luận: Bị cáo Trần Văn H không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát Nhân dân khu vực 2 - Huế.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Trần Văn H xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Trần Văn H không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn H: Hội đồng xét xử có đủ căn cứ vững chắc kết luận: Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 29/3/2025 tại đường Chương Dương thuộc địa bàn phường Phú Xuân, thành phố H; lực lượng Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang bị cáo Trần Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,2623g (Không phẩy hai sáu hai ba gam), là chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Về áp dụng chính sách pháp luật hình sự:

- Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định:“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) ... Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.

- Tại điểm c khoản 1 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự (Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm: c) ... Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.

So sánh mức hình phạt quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thấp hơn so với Luật số: 86/2025/QH15 năm 2025, nên áp dụng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 năm 2025 theo hướng có lợi cho bị cáo Trần Văn H. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân khu vực 2 - H truy tố bị cáo Trần Văn H là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn H nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước, làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội. Bản thân bị cáo Trần Văn H phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần tiếp tục cách ly bị cáo Trần Văn H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo Trần Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn H không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Văn H.

Đối với Trần Văn Q là người bán chất ma tuý cho bị cáo Trần Văn H có địa chỉ cư trú tại phường Phú Xuân, thành phố H, nhưng không có mặt tại địa phương nên không lấy được lời khai nên chưa xử lý trong cùng vụ án. Đối với người chở bị cáo Trần Văn H đi mua chất ma túy thì Cơ quan điều tra cũng chưa xác định được lý lịch nên chưa có cơ sở để xử lý.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1123g mẫu bột nghiền từ 03 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ là vật cấm tàng trữ; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 năm 2025.

- Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (Ngày 30/3/2025).

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Văn H.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1123g (Không phẩy một một hai ba gam) mẫu bột được nghiền từ 03 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký ghi họ tên của Giám định viên Trần N, 02 chữ ký ghi họ tên của Điều tra viên Trương Thanh M, 02 dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H và dòng chữ "Hoàn mẫu vật vụ Trần Văn H, bắt ngày 29/3/2025".

Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - H theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/7/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - H.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ