vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 26/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Đặng Mạnh Q 02 (hai) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 26-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Băng, ông Trần Thanh Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Lê Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Đặng Mạnh Q; tên gọi khác: không; sinh ngày 06 tháng 10 năm 1987 tại tỉnh Yên Bái; giới tính: Nam; nơi cư trú: Tổ E, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Đặng Văn H và bà: Lê Thị V có vợ là Nguyễn Hồng T và 04 con: con lớn sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 20 tháng 12 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Y. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Hồng T, sinh năm: 1990; địa chỉ: Tổ E, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1962 địa chỉ: Tổ dân phố P, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Mạnh Q là đối tượng sử dụng chất ma túy. Vào khoảng 19 giờ, ngày 20 tháng 12 năm 2024, khi đang đi chơi ở gần nhà, Q nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã điều khiển xe xe ôtô BKS: 21A-178.12 một mình đi đến khu vực tổ dân phố P, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái mua 300.000 đồng được 01 gói ma tuý "Đá" đựng trong túi nilon màu trắng, có khoá kẹp, viền màu đỏ. Q cầm gói ma túy cho vào túi quần bên phải đang mặc và đi bộ ra khu vực ven đường thuộc tổ dân phố P, phường H, thành phố Y để sử dụng thì bị Công an thành phố Y kiểm tra, bắt giữ.

* Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Đặng Mạnh Q:

- 01 (một) túi nilon màu trắng, miệng túi có khoá kẹp, viền màu đỏ bên trong nghi chứa chất ma tuý (thu giữ tại túi quần bò nhỏ, bên phải) Đặng Mạnh Q đang mặc);

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu TCL, màu trắng, đã qua sử dụng, màn hình đã bị nứt, vỡ; máy có số IMEI1: 3520.5181.1173.811, lắp 02 sim có số thuê bao: 0974.967.555 và 0966.858.966 (Thu giữ tại túi quần Q đang mặc).

- 01 (một) căn cước công dân số 015.087.001.068 mang tên Đặng Mạnh Q.

- 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu TOYOTA VELOZ CROSS màu trắng, đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 21A-178.12; xe có số khung: RL4AB1BB9P6603122; số máy: 2NRY113179;

- 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định ô tô số DA6311240 của chiếc xe biển kiểm soát: 21A-178.12;

- 01 (một) giấy biên nhận thế chấp số 01/BIDV.YB-GBN (ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa Ngân hàng TMCP Đ, chi nhánh Y với bà Nguyễn Hồng T).

* Tại Bản kết luận giám định số: 782/KL-KTHS, ngày 27 tháng 12 năm 2024 của phòng K, Công an tỉnh Y kết luận:

Chất tinh thể màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Đặng Mạnh Q có khối lượng là 0,2 gam (Không phẩy hai gam). 0,1 gam trích từ 0,2 gam chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐCP ngày 25-8-2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất.

Cáo trạng số 17-CT-VKS-TP ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố Đặng Mạnh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Đặng Mạnh Q từ: 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì do phòng K, Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Đặng Mạnh Q, ngày 20/12/2024 (sau khi trích mẫu giám định)”, mặt sau phong bì các mép được dán kín có họ tên chữ ký của Lê Tiến D, Hoàng Văn T1, Ninh Văn B, Nguyễn Đức P, Đặng Mạnh Q và các dấu hình tròn đỏ của phòng K, Công an tỉnh Y; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 vỏ túi nilon màu trắng, miệng túi có khóa kẹp viền màu đỏ (sau giám định);

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu TCL, màu trắng, đã qua sử dụng, màn hình đã bị nứt, vỡ; máy có số IMEI1: 3520.5181.1173.811, lắp 02 sim có số thuê bao: 0974.967.555 và 0966.858.966.

- Trả lại cho Đặng Mạnh Q: 01 căn cước công dân số 015.087.001.068 mang tên Đặng Mạnh Q.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, không tranh luận gì và có lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt, tuy nhiên, sự vắng mặt của của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép 0,2 gam chất ma túy loại Methamphetamine mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy của Đặng Mạnh Q trong ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại khu vực thuộc tổ dân phố P, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, đây là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác trong xã hội.

Về nhân thân, bị cáo Đặng Mạnh Q chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có đủ năng lực nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của bản thân, biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.

Bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, do đó cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy; không có việc làm, tài sản, thu nhập; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về nguồn gốc số ma túy (M) bị thu giữ khi bắt quả tang, Đặng Mạnh Q khai nhận: Vào khoảng 19 giờ, ngày 20-12-2024 Q đã mua của Đỗ Hồng T2 (sinh năm 1966, HKTT: Tổ B, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; chỗ ở: TDP P, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái), sau khi mua được ma tuý tổng hợp dạng "Đá", Q chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang thu giữ. Ngoài ra, vào khoảng 20 giờ, ngày 11tháng 12 năm 2024, Q cũng mua của Đỗ Hồng T2 300.000 đồng tiền ma tuý tổng hợp dạng "Đá", số ma tuý mua được Q đã tự sử dụng hết cho bản thân. Đỗ Hồng T2 không thừa nhận việc bán ma tuý tổng hợp dạng "Đá" cho Đặng Mạnh Q. Q không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì (ngoài lời khai) để khẳng định người bán ma tuý cho Q là Đỗ Hồng T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật, tuy nhiên không thu thập được tài liệu, chứng cứ khác chứng minh, do đó không đủ căn cứ để đề nghị xử lý đối với Đỗ Hồng T2 về hành vi "Mua bán trái phép chất ma tuý" trong vụ án này là phù hợp.

Ngoài ra, quá trình khám xét đối với Đỗ Hồng T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Y đã phát hiện Trường có hành vi tàng trữ trái phép 0,52 gam Heroine tại tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Đỗ Hồng T2 là độc lập, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Y đã tách hành vi phạm tội của Đỗ Hồng T2 ra để điều tra làm rõ và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 0,1 gam ma túy loại Methamphetamine cơ quan điều tra đã sử dụng giám định hết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Còn lại 0,1 gam ma túy loại loại Methamphetamine được niêm phong (sau khi đã trích mẫu giám định), cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 vỏ túi nilon màu trắng, miệng túi có khóa kẹp viền màu đỏ (sau giám định). Xét liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện thoại di động TCL, màu trắng, đã qua sử dụng, màn hình đã bị nứt, vỡ; máy có số IMEI1: 3520.5181.1173.811, lắp 02 sim có số thuê bao: 0974.967.555 và 0966.858.966, Q dùng để liên lạc mua ma túy, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 căn cước công dân số 015.087.001.068 mang tên Đặng Mạnh Q, là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho Đặng Mạnh Q.

- Đối với các tài sản gồm: Chiếc xe ôtô nhãn hiệu TOYOTA VELOZ CROSS màu trắng, đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 21A-178.12; xe có số khung: RL4ABIBB9P6603122; số máy: 2NRY113179; cùng giấy chứng nhận kiểm định ô tô số DA6311240 của chiếc xe và giấy biên nhận thế chấp số 01/BIDV.YB-GBN (ngày 16/8/2024), quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Hồng T (vợ của Đặng Mạnh Q). Chị T không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Y không đề nghị xử lý và trả lại các tài sản trên cho chị T là phù hợp.

Về án phí và quyền kháng cáo:Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:

Đặng Mạnh Q 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt 20 tháng 12 năm 2024

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3.1 Tịch thu tiêu hủy:

- 0,1 gam ma túy Methamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Đặng Mạnh Q ngày 20/12/2024 (sau khi trích mẫu giám định)”. Mặt sau phong bì, các mép đều được dán kín, có họ tên, chữ ký của Lê Tiến D, Hoàng Văn T1, Ninh Văn B, Nguyễn Đức P, Đặng Mạnh Q và các hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh Y.

- 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 vỏ túi nilon màu trắng, miệng túi có khóa kẹp viền màu đỏ (sau giám định)

3.2 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 điện thoại di động TCL, màu trắng, đã qua sử dụng, màn hình đã bị nứt, vỡ; máy có số IMEI1: 3520.5181.1173.811, lắp 02 sim có số thuê bao: 0974.967.555 và 0966.858.966

3.3 Trả lại cho Đặng Mạnh Q:

01 căn cước công dân số 015.087.001.068 mang tên Đặng Mạnh Q

(Đặc điểm chi tiết thể hiện theo các biên bản giao nhận vật chứng ngày 26-02-2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ