vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 20/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 26/3/2025). Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày: 20 – 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Minh Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công D, ông Nguyễn Duy Cừ

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Hồng D - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh.

Đại diện VKSND khu vực 1 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử TAND khu vực 1 - Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 07 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS, ngày 07/8/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 23 tháng 7 năm 1980 tại phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh. Trú tại: Tổ 10, phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. trình độ học vấn: Lớp 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ (đoàn thể, đảng phái): Không. Con ông: Nguyễn Văn D (bỏ đi không rõ tung tích) và bà: Nguyễn Thị O, sinh năm: 1952, vợ con: Chưa có.

Tiền án: Ngày 26/6/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 53/2012/HSPT; đã chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam Đồng S ngày 05/10/2020; đến ngày 28/5/2025 thi hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm (chưa được xóa án tích). Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 20/9/2001, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 303/HSST; đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích. Ngày 02/6/2004, bị Tòa án nhân dân thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2004/HS-ST; đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích. Ngày 21/01/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2008/HS-ST; đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 26/3/2025 đến ngày 31/03/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Những người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu P, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn Hòa, phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Trần Văn D, sinh năm 1978; Trú tại: Thôn Bắc Thượng, phường Hà Huy Tập, tỉnh Hà Tĩnh– vắng mặt.

Cán bộ, C sỹ hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh: Đồng chí Bùi Xuân Đ, Cao Đăng C, Nguyễn Minh C, Nguyễn Thu S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 25/3/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Duy T đi xe buýt ra thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An để mua ma túy. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Nguyễn Duy T xuống cầu Bến Thủy 2 thì gặp một người đàn ông không quen biết (không rõ thông tin, địa chỉ cụ thể), qua nói chuyện T biết người này có ma túy để bán nên đã mua 07 túi ni lông bên trong chứa ma túy đá với giá 3.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Duy T đi xe buýt về phòng trọ của mình thuê của ông Trần Văn D tại thôn Bắc Thượng, phường Hà Huy Tập, tỉnh Hà Tĩnh lấy 01 túi ma túy sử dụng hết, 02 túi ma túy T để trên hộp đựng giấy lau ở dưới nền nhà và 04 túi ma túy còn lại để trong ngăn kéo ngoài cùng của ba lô màu đen treo ở cửa sổ phòng trọ. Đến khoảng 7 giờ ngày 26/3/2025, Nguyễn Hữu P (sinh năm 1991, trú tại: thôn Hòa, phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh) đến phòng trọ của Nguyễn Duy T chơi. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Duy T và Nguyễn Hữu P đang ở trong phòng trọ thì lực lượng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh đến đưa giấy triệu tập cho T để làm việc liên quan đến một vụ án đang điều tra. Khi Nguyễn Duy T mở cửa phòng ra thì lực lượng cơ quan Công an phát hiện 01 túi ni lông trong suốt, kích thước (2x3)cm, bên trong đựng 02 túi ni lông có cùng kích thước (1,8x2,2)cm, chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu M1, M2) mà T đang để trên hộp giấy lau ở dưới nền nhà. Nguyễn Duy T khai nhận đó là ma túy đá T mua về nhằm mục đích để sử dụng. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Vào hồi 12 giờ 20 phút, ngày 26/3/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh tiến hành khám xét phòng trọ của Nguyễn Duy T tại thôn Bắc Thượng, phường Hà Huy Tập, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện, thu giữ 04 túi ni lông màu trắng, có cùng kích thước (1,8x2,2)cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M3 - M6) ở trong ngăn kéo phía ngoài cùng của ba lô màu đen treo ở cửa sổ trong phòng trọ và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nước bằng nhựa màu trắng, nắp màu nâu được đục 02 lỗ gắn 01 cóng thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa để trong thùng nhựa màu đỏ đặt ở góc giường bên trái trong phòng trọ. Nguyễn Duy T khai nhận đó là ma túy của T mua về cất giấu nhằm mục đích để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 463/KL-KTHS, ngày 31/3/2025 của Phòng kỷ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Tĩnh: Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1- M6) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,4802 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Vật chứng thu giữ:

01 túi ni lông trong suốt, kích thước (2x3)cm, bên trong đựng 02 túi ni lông có cùng kích thước (1,8x2,2)cm (ký hiệu M1, M2), chứa tổng khối lượng 0,4221 gam ma túy Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định còn 0,3393 gam); 04 túi ni lông màu trắng, có cùng kích thước (1,8x2,2) cm (ký hiệu M3 - M6) chứa tổng khối lượng 1,0581 gam ma túy Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định còn 0,9078 gam); 01 hộp đựng giấy màu xám, mặt trên màu nâu có khoét lỗ, kích thước (13x24x6)cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nước bằng nhựa màu trắng, nắp màu nâu được đục 02 lỗ gắn 01 cóng thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh, đã qua sử dụng.

Với hành vi trên, tại cáo trạng số 01/CT-VKS-KV1, ngày 07/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h, Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015; Xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 26/3/2025). Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: 1,2471 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định); 01 hộp đựng giấy màu xám; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nước bằng nhựa màu trắng, nắp màu nâu được đục 02 lỗ gắn 01 cóng thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh, đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình; mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các Cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Do đó các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đẫ thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu được và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định:

Vào hồi 11 giờ, ngày 26/3/2025 tại phòng trọ của Nguyễn Duy T thuộc thôn Bắc Thượng, phường Hà Huy Tập, tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang Nguyễn Duy T có hành vi tàng trữ 0,4221 gam ma túy Methamphetamine. Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Duy T, Cơ quan Công an thu giữ 1,0581 gam ma túy Methamphetamine. Tổng khối lượng thu giữ của Nguyễn Duy T là 1,4802 gam ma túy Methamphetamine đều nhằm mục đích để sử dụng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật, nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự:

Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định: Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...........

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 1 tiền án về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý; Bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 năm tù tại Bản án hình sự phúc thẩm số 53/2012/HSPT ngày 26/6/2012; đã chấp hành xong án phạt tại Trại giam Đồng S vào ngày 05/10/2020; đến ngày 28/5/2025 mới thi hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm. Như vậy tính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng khi lượng hình quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn D được Nhà nước tặng Huy chương kháng C hạng Nhất trong cuộc kháng C chống Mỹ cứu nước, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt áp dụng:

Xét vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy và ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy lâu năm, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân đã tàng trữ một lượng ma túy để sử dụng. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 20/9/2001, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 303/HS-ST; Ngày 02/6/2004, bị Tòa án nhân dân thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/HS-ST; Ngày 21/01/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2008/HS-ST. Như vậy thấy rằng, bị cáo coi thường pháp luật, đã được giáo dục pháp luật nhiều lần nhưng không không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, tu dưỡng thành công dân tốt. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo, để giảm nhẹ một phần hình phạt.

Xét mức hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có nghề nghiệp, là đối tượng nghiện ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu bản thân, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án:

- Đối với 1,2471 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định); 01 hộp đựng giấy màu xám, mặt trên màu nâu có khoét lỗ, kích thước (13x24x6)cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nước bằng nhựa màu trắng, nắp màu nâu được đục 02 lỗ gắn 01 cóng thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu xanh, đã qua sử dụng thu của Nguyễn Duy T không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về các vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Duy T, do bị cáo T không biết họ tên, thông tin, địa chỉ cụ thể nên không có cở sở để điều tra xử lý.

- Đối với Nguyễn Hữu P là bạn bè với Nguyễn Duy T, P đến phòng trọ của T để chơi và ông Trần Văn D là chủ nhà trọ cho Nguyễn Duy T thuê phòng nhưng P và ông D không biết T có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 26/3/2025).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 1 phong bì phía ngoài có chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, bên trong có chứa 1,2471 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định) cùng toàn bộ vỏ gói và phong bì thư niêm phong ban đầu; 01 hộp đựng giấy màu xám, mặt trên màu nâu có khoét lỗ, kích thước (13x24x6)cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nước bằng nhựa màu trắng, nắp màu nâu được đục 02 lỗ gắn 01 cóng thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa.

- Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, đã qua sử dụng.

(Tình trạng, đặc điểm cụ thể các vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an Hà Tĩnh và Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Duy T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ