- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRƯƠNG VĂN H, TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mảnh bao nilon màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày 02-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Văn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lô Thị Hà
Ông Vi Anh Tú
- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Thành Vương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Việt - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An (Điểm cầu trung tâm) và tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An (Điểm cầu thành phần) tiến hành xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Văn H. Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 08/8/1983 tại huyện Q Ch, tỉnh Ngh A.
Nơi cư trú: Bản C, xã D L, huyện Q Ch, tỉnh Ngh A. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 0/12. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trương Văn Th và bà Trương Thị Th (đều đã chết). Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thủy - Trợ giúp viên pháp lý. Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do là người nghiện chất ma túy nên vào chiều ngày 08/01/2025, Trương Văn H đi từ nhà ở bản C, xã D L, huyện Q Ch, tỉnh Ngh A đến khu vực đồi núi thuộc bản B C, xã Ch H, huyện Q Ch tiếp giáp với xã Q Ph, huyện Q Ph, tỉnh Ngh A tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, H gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết một gói ma túy được bọc bằng bao nilon màu trắng bên trong có chứa một cục ma túy Heroine màu trắng và bốn viên ma túy hồng phiến màu hồng với gia 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, H lấy một ít Heroine và một viên hồng phiến ra sử dụng, số còn lại H gói lại như ban đầu và giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày khi H đang đi bộ trên đường thuộc khu vực bản B C, xã Ch H, huyện Q Ch thì bị tổ công tác Công an xã Châu Hoàn và xã Diên Lãm, huyện Quỳ Châu kiểm tra, đồng thời phát hiện trong túi áo khoác bên trái mà H đang mặc có 01 gói nilon màu trắng bên trong có 01 cục ma túy Heroine màu trắng và 03 viên ma túy hồng phiến màu hồng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, đưa đối tượng về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, H khai nhận số ma túy bị thư giữ là Heroine và hồng phiến của H mua về nhằm mục đích sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 102/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 13/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Trương Văn H gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine, có tổng khối lượng là 0,16g (Hai phảy hai mươi lăm gam); Mẫu các viên nén đồng dạng màu hồng (03) viên thu giữ của Trương Văn H gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và có tổng khối lượng 0,28g.
Cáo trạng số 15/CT-VKS-QC ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định truy tố bị cáo Trương Văn H ra trước Tòa án để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Trương Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy’’. Căn cứ Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy mảnh bao nilon màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo có trình độ học vấn thấp, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có nhiều tệ nạn xã hội phức tạp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trương Văn H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy’’. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng, không có ý kiến gì trong phần tranh luận và không bổ sung thêm ý kiến gì vào bản bào chữa của người bào chữa mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên vào chiều ngày 08/01/2025 bị cáo một mình đi đến khu vực đồi núi thuộc bản B C, xã Ch H tiếp giáp với xã Qu Ph, huyện Q Ph, tỉnh Ngh A gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine và 04 viên ma túy hồng phiến loại Methamphetamine với giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy thì bị cáo đã trích một ít Heroine và 01 viên hồng phiến ra sử dụng, số còn lại bị cáo đem về nhà cất giấu để sử dụng dần. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày khi bị cáo đang đi bộ trên đoạn đường thuộc bản B C, xã Ch H, huyện Q Ch thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,16g và 03 viên hồng phiến loại Methamphetamine có khối lượng 0,28g. Tổng khối lượng của hai chất ma túy là 0,44g.
Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ hai loại ma túy có tổng khối lượng 0,44g với mục đích để sử dụng. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Trương Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo Trương Văn H vào ngày 08/01/2025. Quá trình điều tra và tại phiên toà không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xử lý.
Xét tính chất của vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ nhận thức nhất định về pháp luật để biết rằng các loại ma túy nói chung là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép nhưng bị cáo đã không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân, coi thường kỷ cương pháp luật, mặc dù là người nghiện chất ma túy nhưng đã không thật sự có ý thức cai nghiện để từ bỏ ma túy mà còn tìm mua ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và có một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[3] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS quy định: ‘‘Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền…’’. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản và không có khả năng thi hành án. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu đã thu giữ của bị cáo 0,16g ma túy loại Heroine và 0,28g ma túy loại Methamphetamine, đã trích toàn bộ đi giám định và đã giám định hết. Nay còn lại mảnh bao nilon màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín. Đây là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trương Văn H 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 08/01/2025.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mảnh bao nilon màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín.
(Tất cả vật chứng nói trên có đặc điểm như mô tả trong Biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trương Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND h Quỳ Châu, VKSND tỉnh Nghệ An; - Phòng KTNV&THAHS TAND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - UBND xã Diên Lãm, huyện Qùy Châu; - Công an xã Diên Lãm, huyện Quỳ Châu; - Chi cục THADS h.Quỳ Châu; - Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, lưu văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lô Văn Linh |