- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Tuấn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày 24-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Văn Nghiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lộc Văn Quảng
Ông Hứa Văn Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lộc Thị Mận - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Hoàng Tuấn A (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03 tháng 9 năm 1991, tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Minh Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Có 01 – Tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 489/QĐ-XPTT ngày 26-5-2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 (ba) tháng, kể từ ngày 29-5-2023; nhân thân: Tại Bản án số 54/2018/HS-ST ngày 15-8-2018 của Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá); bị tạm giữ từ ngày 23-9-2024, tạm giam từ ngày 29 tháng 9 năm 2024 đến nay; có mặt.
Phiên tòa diễn ra tại:
Điểm cầu trung tâm: Phòng xử án tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
Điểm cầu thành phần: Tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
Kiểm sát viên, công chức Tòa án, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ tại điểm cầu thành phần gồm:
1. Bà Vũ Thị H1 - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
2. Bà Tạ Phương T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
3. Ông Dương Anh Đ1 - Chiến sỹ Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 23-9-2024, Hoàng Tuấn A đi xe khách từ thôn Bản Vàng, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn ra khu vực bến xe phía Bắc thuộc thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, Hoàng Tuấn A gặp người đàn ông làm nghề xe ôm (không rõ họ, tên, địa chỉ). Hoàng Tuấn A hỏi người đàn ông mua 250.000 đồng tiền ma tuý. Hoàng Tuấn A đưa tiền cho người đàn ông. Người đàn ông nhận tiền, rồi dời đi. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông quay lại và đưa cho Hoàng Tuấn A 01 (một) gói giấy màu xanh, bên trong có gói giấy nhỏ màu trắng có chứa chất bột màu trắng. Hoàng Tuấn A cất giấu gói giấy chứa ma tuý vào túi quần bên trái rồi bắt xe khách để đi về nhà. Khi về đến thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì Hoàng Tuấn A xuống xe. Khi đang đi bộ tìm chỗ sử dụng ma tuý thì bị phát hiện, bắt quả tang và bị thu giữ gói giấy có chứa chất ma tuý.
Tại Bản kết luận giám định số 1005/KL-KTHS ngày 26-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,126 gam (đã trừ bì).
Tại Bản Cáo trạng số 02/CT-VKSCL ngày 16-12-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định và các vỏ, bao gói. Trả lại cho bị cáo Căn cước công dân. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng tội danh, đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện, không oan. Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện ăn năn, hối hận về việc làm của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận, ngày 23-9-2024, bị cáo là người thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,126 gam ma tuý Heroin để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, có đủ căn cứ kết tội bị cáo Hoàng Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định của điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: Bị cáo đã bị xử lý hình sự đã được xoá án tích, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính chưa được xoá tiền sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma tuý, không có tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với chất ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành; các vỏ, bao gói không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ. Đối với Căn cước công dân thu giữ của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo bị kết nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo: Do Cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xử lý trong vụ án này.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo còn có phần nghiêm khắc chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Ý kiến của bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, nộp, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 23 tháng 9 năm 2024.
3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Tuấn A.
4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
4.1. Tịch thu, tiêu huỷ: 0,116 gam chất ma tuý Heroin, toàn bộ các vỏ bao gói và 01 (một) phong bì”.
4.2. Trả lại cho bị cáo Hoàng Tuấn A 01 (một) Căn cước công dân mang tên Hoàng Tuấn A, có số 020091011019.
(Các vật chứng trên được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-12-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).
5. Về án phí: Bị cáo Hoàng Tuấn A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn. - Sở Tư pháp, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Cao Lộc; - Công an huyện Cao Lộc; - Chi cục THADS huyện Cao Lộc; - Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Văn Nghiệp |