vanban.org

Bản án 13/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 22/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vương Thanh T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt 1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vương Thanh T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 18/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Vương Thanh T1 phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vương Thanh T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẠCH THÔNG
TỈNH BẮC KẠN
Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 22/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Diện;

Ông Nguyễn Văn Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Sinh Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Vương Thanh T1; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 18 tháng 4 năm 1989 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Phố X, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vương Văn N, sinh năm 1963 và bà Lăng Thị H, sinh năm 1962; Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án: 01 tiền án, bản án số 22/2022/HS-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt Vương Thanh T1 12 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phải chịu 200.000 đồng tiền án phí. Ngày 13/7/2023, chấp hành xong án phạt tù; đã thi hành 200.000 đồng tiền án phí.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2024 cho đến nay.

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Vương Công Đ, sinh năm 1984; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Phố X, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 05 phút ngày 18/12/2024, tại thôn A, xã B, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tổ công tác Công an huyện Bạch Thông bắt quả tang Vương Thanh T1, sinh năm 1989, trú tại X, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra T1 tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 02 gói nhỏ đều được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt có nhiều chữ viết, bên trong có chứa chất màu trắng nghi vấn là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy heroine do Viện khoa học hình sự Bộ Công an cấp, kết quả trùng với phản ứng đặc trưng của ma túy heroine. Sau khi thử phản ứng tiến hành gói lại như lúc ban đầu và niêm phong trong phong bì ký hiệu “T”.

Ngày 18/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành lập biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng chất nghi vấn là ma túy thu giữ được của Vương Thanh T1, xác định: Tổng khối lượng số chất màu trắng có trong 02 gói nhỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T” nêu trên là 0,277g. Sau khi cân, toàn bộ số chất màu trắng có trong 02 gói nhỏ nêu trên được gói trong 01 mảnh giấy hai mặt màu trắng và niêm phong trong phong bì ký hiệu “GĐ” để gửi giám định. Ngày 19/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vương Thanh T1, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết luận giám định số 21/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, kết luận: Mẫu chất màu trắng trong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng chất màu trắng có trong phong bì ký hiệu GĐ là 0,277g. Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,243g, cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T16 hoàn trả lại cho cơ quan trưng cầu.

Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo T1 khai nhận: Do bản thân là người sử dụng ma túy nên khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 18/12/2024, T1 từ nhà tại phố X, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn điều khiền xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu đen, biển kiểm soát: 97F6-5273 đi xuống thành phố Bắc Kạn mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi xuống đến khu vực cầu phà thuộc thành phố Bắc Kạn, T1 gặp một người đàn ông khoảng 45 tuổi (bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) và hỏi mua được với người đàn ông này 02 gói nhỏ ma túy với số tiền 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T1 điều khiển xe mô tô theo đường qua xã Q, B, C để quay về nhà ở thị trấn Y. Khi đi đến địa phận thôn A, xã B, huyện Bạch Thông thì bị Tổ công tác Công an huyện Bạch Thông kiểm tra. Quá trình kiểm tra T1 đã tự nguyện giao nộp 02 gói ma tuý vừa mua được. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ, niêm phong các đồ vật, tài liệu có liên quan và đưa T1 về trụ sở Công an huyện để làm việc. Lời khai của Vương Thanh T1 phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án .

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSBT, ngày 11/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Vương Thanh T1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị xử lý bị cáo như sau:

*Về trách nhiệm hình sự:

- Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (18/12/2024).

- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

*Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T16 bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,243g cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 02 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt có nhiều chữ viết và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T”.

*Về Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì.

Lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo

Do bản thân sử dụng và nghiện chất ma túy, nên ngày 18/12/2024 tại khu vực thôn A, xã B, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Vương Thanh T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói nhỏ ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,277g (không phẩy hai bảy bảy gam), mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn yêu cầu kiểm tra hành chính. Do bị kiểm tra nên Vương Thanh T1 đã tự nguyện giao nộp 02 gói nhỏ ma túy nêu trên cho tổ công tác.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, xâm phạm quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông quyết định truy tố bị cáo trước Tòa án để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…;

c) Heroine…. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, các vấn đề khác và Điều luật mà kiểm sát viên, đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo

3.1. Về tình tiết tặng nặng:

Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là tái phạm.

3.2. Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:

Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đang có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có ông ngoại là ông Lăng Văn N được Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng huân chương kháng chiến hạng nhất và có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt

4.1. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ, tính nguy hiểm cho xã hội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù tại trại giam một thời gian nhất định, qua đó mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và cũng để răn đe, phòng ngừa chung.

4.2. Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuy nhiên qua xem xét thấy bị cáo bản thân nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và tài sản riêng do vậy không xem xét áp dụng.

Về những vấn đề khác liên quan

Đối với người đàn ông theo bị cáo Vương Thanh T1 trình bày đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông không có cơ sở để xác minh, xử lý.

Xử lý vật chứng trong vụ án

Quá trình điều tra thu giữ:

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu “T16” bên trong có 0,243g (không phẩy hai bốn ba gam) mẫu chất gửi giám định cùng bao gói cũ, phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “GĐ” do cơ quan giám định hoàn trả xét không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 02 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt có nhiều chữ viết và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T” xét không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 97F6 - 5273 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy kèm chìa khóa xe máy mà bị cáo Vương Thanh T1 sử dụng để đi mua ma túy. Qua điều tra xác định, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Vương Công Đ, sinh năm 1984, trú tại phố X, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Về án phí

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Vương Thanh T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt

2.1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vương Thanh T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 18/12/2024.

2.2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng trong vụ án

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu “T16” bên trong có 0,243g (không phẩy hai bốn ba gam) mẫu chất gửi giám định cùng bao gói cũ, phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “GĐ” do cơ quan giám định hoàn trả;

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 02 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt có nhiều chữ viết và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T”.

(Số lượng, tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/3/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./.

Cỡ chữ