- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HS-PT Ngày: 22-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Phương
Các Thẩm phán: Bà Giang Thị Vượng
Bà Nguyễn Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 17/2025/TLPT-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Công N, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Công N, sinh năm 1982 tại tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 06, phường Q, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công N1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1960; Vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.811.817.308-981-23-001862/QĐ- XPHC ngày 29/9/2023 của Công an tỉnh Lào Cai xử phạt bị cáo 10.900.000 đồng về hành vi: Điều khiển xe chở hàng vượt trọng tải cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 150%; chở hàng vượt phía sau thùng xe trên 10% chiều dài xe. Hình phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 05 tháng hạng E số 120123000566, từ ngày 29/9/2023 đến hết ngày 29/02/2024, chưa được xóa tiền sự.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/5/2024 cho đến nay (Có mặt).
- Ngoài ra còn có bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Công N có giấy phép lái xe ô tô hạng E nhưng đang bị Công an tỉnh Lào Cai xử phạt vi phạm hành chính, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 05 tháng từ ngày 29/9/2023 đến hết ngày 29/02/2024. Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 17/10/2023, N điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 25C-038.** có trọng tải 8.500 kg (xe của em trai N là Nguyễn Công N2) chở Pờ Văn T đi từ thành phố L đến nhà máy thủy điện Van Hồ thuộc xã N, huyện P chở cốt pha thuê. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi chằng buộc đủ cốt pha, Nđiều khiển xe ô tô từ xã N, huyện P về huyện NN, tỉnh Lai Châu. Trên đường đi, N nhận được điện thoại của Phạm Kim O thuê chở 01 chiếc cột điện về huyện NN, tỉnh Lai Châu, do tiện chuyến nên N đồng ý. N gọi điện thoại cho người thuê chở cốt pha là Hoàng Kim M nói dối xe bị hỏng phải về thành phố L sửa, sáng mai mới chở đi huyện NN, tỉnh Lai Châu. Sau đó, N hạ cốt pha trên xe xuống bãi đá Th thuộc thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu rồi điều khiển xe ô tô đi về thành phố L, tỉnh Lai Châu chở cột điện. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 17/10/2023, khi đi tới km15+200 đường quốc lộ 4D thuộc địa phận bản C, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu, N nhìn thấy phía trước có 02 xe ô tô đang dừng lại trên đường, phía trước là xe ô tô biển kiểm soát 25C-047.** do Lò Văn S điều khiển, phía sau là xe ô tô biển kiểm soát 21C-004.** do Lò Văn D điều khiển. Xe ô tô của S chở gạch bị rơi xuống đường nên S và D dừng xe sát lề đường bên phải để bốc xếp gạch. Do làn đường bên phải có chướng ngại vật, N bật xi nhan điều khiển xe đi sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình. Khi xe ô tô của N đi ngang với phần thùng xe ô tô biển kiểm soát 21C-004.** thì gặp xe mô tô biển kiểm soát 25B1-601.** do Tẩn Kim C điều khiển chạy ngược chiều, phía sau chở Lý Tả M. Do xe ô tô của N chiếm hết phần đường xe chạy nên xe mô tô của C đâm vào phần đầu bên lái xe ô tô do N điều khiển làm Lý Tả M bị ngã văng xuống rãnh nước bên phải theo chiều từ thành phố L đi huyện P và chết trên đường đi cấp cứu. Tẩn Kim C bị ngã xuống lề đường bên phải, sau đó được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu.
Hành vi của Nguyễn Công N điều khiển xe đi sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình gây tai nạn giao thông đã vi phạm quy tắc giao thông tại khoản 1 Điều 9, điểm c khoản 2 Điều 17 Luật giao thông đường bộ.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Vị trí tai nạn giao thông tại km15+200 đường quốc lộ 4D, thuộc địa phận bản C, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu, chiều rộng mặt đường 06m, độ dốc 050, mặt đường trải nhựa có vạch phân làn đường màu vàng chia đường thành 02 phần, mỗi phần đường rộng 03m. Lấy hướng từ thành phố L đi huyện P làm hướng khám nghiệm, tại hiện trường phát hiện:
Xe ô tô biểm kiểm soát 25C-038.** nằm ở phần đường bên phải; trục trước bên phụ cách mốc cố định (cọc tiêu H2/15) 16m về phía trước, cách mép đường bên phải 03m; trục sau bên phụ cách mốc cố định 9,3m về phía trước, cách mép đường bên phải 3,2m.
Xe mô tô biển kiểm soát 25B1-601.** nằm trong lòng rãnh thoát nước bên phải, trục sau xe mô tô cách trục sau bên lái xe ô tô 3,15m, trục trước xe mô tô cách trục sau bên lái xe ô tô 3,36m.
01 vết trượt cày đất trên lề đường bên phải kích thước 0,7x11cm; tâm vết trượt cách mép đường 0,9m, cách trục trước bên lái xe ô tô 1,98m.
01 vết cày xước bê tông trên thành bên phải của rãnh thoát nước có kích thước dài 1,45m x rộng 01cm; điểm đầu vết cày xước bê tông cách điểm cuối vết cày đất 2,4m, cách đáy rãnh thoát nước 0,53m.
01 vết phanh dài 3,2m x rộng 16cm, cách mép đường bên phải 1,85m, điểm cuối trùng với lốp xe phía sau bên lái xe ô tô.
01 vết phanh dài 2,1m x rộng 16cm, cách mép đường bên phải 3,2m, điểm cuối trùng với lốp phía sau bên phụ xe ô tô.
Xe ô tô biển kiểm soát 25C-047.** và xe ô tô biển kiểm soát 21C-004.** dừng đỗ bên phần đường bên trái, cách xe ô tô biển kiểm soát 25C-038.** khoảng 50m về phía đi thành phố L.
Tại bản kết luận giám định số 1119/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Tại mặt trước, mặt ngoài ốp nhựa phía trước đầu xe bên trái có hệ thống dấu vết trượt xước nhựa màu đỏ bám dính chất màu đen (dạng sơn); tại mặt trước, mặt ngoài núm kim loại tay gương bên trái có dấu vết trượt xước, mòn vẹt kim loại bám dính chất màu đen (dạng sơn) trên diện (10x5,2)cm. Dấu vết va chạm ở xe mô tô mang biển số 25B1-601.** tại vị trí này có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái phù hợp với hệ thống dấu vết trượt xước, bong tróc mất matit, mất sơn màu đen; trượt xước làm sáng kim loại, làm biến dạng kim loại trên diện (20x0,4)cm tại mặt trước, mặt ngoài chắn đà trước bên lái xe ô tô mang biển số 25C-038.**. Dấu vết va chạm ở xe ô tô mang biển số 25C-038.** tại ví trí này có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải.
Hệ thống dấu vết trượt xước, mòn vẹt, gãy kim loại trên diện (03x01)cm tại mặt trước, mặt ngoài đầu khung bảo vệ yếm xe (baga trước); mặt trước, mặt ngoài, đầu phía ngoài móc treo hàng bên trái xe mô tô mang biển số 25B1-601.**. Dấu vết va chạm ở xe mô tô mang biển số 25B1-601.** tại vị trí này có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái phù hợp với hệ thống dấu vết bong tróc mất matit, mất sơn màu đen; trượt xước làm rách, sáng kim loại, làm biến dạng kim loại trên diện (4,5x2,5)cm tại mặt trước, mặt ngoài mép dưới chắn đà trước bên lái xe ô tô mang biển số 25C-038.**. Dấu vết va chạm ở xe ô tô mang biển số 25C-038.** tại vị trí này có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải”.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 51/KLGĐTT-TTPYLC ngày 30/10/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Lai Châu kết luận nguyên nhân chết của Lý Tả M: “Sốc không hồi phục do đa chấn thương (chấn thương sọ não, tụ máu ngoài màng cứng, chảy máu lan tỏa dưới màng cứng và màng nhện, chấn thương dập rách mạc nối lớn, gẫy xương đùi trái)”.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 45/KLTTCT-TTPYLC ngày 14/3/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Lai Châu kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tẩn Kim C tại thời điểm giám định là 17% áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác: Tỷ lệ phần trăm của từng thương tích trên cơ thể Tẩn Kim C: Tất cả các vết biến đổi rối loạn sắc tố da là 01%; Gãy mỏm trâm trụ cổ tay trái là 08%; Gãy đầu xa xương bàn ngón III là 08%; Gãy đốt 2 ngón III là 01%. Cơ chế hình thành vết thương trên cơ thể của từng thương tích: Các thương tích trên cơ thể Tẩn Kim C do vật tày tác động gây nên”.
Tại bản kết luận giám định ADN số 24/24/KLGĐADN-PYQG ngày 19/12/2023 của Viện Pháp y quốc gia - Bộ Y tế kết luận: “ADN thu từ nắp hệ thống còi tích hợp trên vô lăng của xe ô tô BKS 25C-038.** trùng khớp hoàn toàn với ADN của Nguyễn Công N trên tất cả các locus STR đã so sánh”.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 38a/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-601.** là 2.084.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô biển kiểm soát 25C-038.** là 6.500.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công N phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.
Ngoài ra bản án còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 26/02/2025, bị cáo Nguyễn Công N có đơn kháng cáo bản án số 35/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu với nội dung xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Công N thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa có quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo và chủ thể kháng cáo, thời hạn kháng cáo đảm bảo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm 01 tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về phần quyết định hình phạt, cụ thể: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết mình đã vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công N nộp trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên đơn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Công N khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai của bị cáo là thống nhất, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 17/10/2023, tại km15+200 đường quốc lộ 4D, thuộc địa phận bản C, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo Nguyễn Công N là người không có giấy phép lái xe theo quy định đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 25C-038.** đi không đúng phần đường, vi phạm quy định về tránh xe đi ngược chiều theo quy định tại khoản 1 Điều 9, điểm c khoản 2 Điều 17 Luật giao thông đường bộ nên đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 25B1-601.** do Tẩn Kim C điều khiển chở Lý Tả M ngồi sau. Hậu quả, Lý Tả M bị chết, Tẩn Kim C bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%, xe mô tô biển kiểm soát 25B1-601.** bị thiệt hại trị giá 2.084.000 đồng.
Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Hội đồng xét xử thấy rằng, cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm: Công văn số 08/CV-CAX ngày 14/3/2025 của Công an xã S, tỉnh Lai Châu về việc bị cáo đã giúp Cơ quan có thẩm quyền phát hiện tội phạm khác trên địa bàn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, ông ngoại là Nguyễn Công Nh và bà ngoại là Nguyễn Thị Th được tặng huân, huy chương, gia đình bị cáo có công ủng hộ đồng bào xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn. Xét thấy, những tài liệu trên là tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần quyết định hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công N, sửa bản án sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về phần quyết định hình phạt, cụ thể như sau:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/5/2025).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lai Châu; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu; - Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Phong Thổ; - TAND huyện Phong Thổ; - Chi cục THADS huyện Phong Thổ; - Bị cáo; Bị hại; ĐD hợp pháp của bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Phương |