- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H và Nguyễn Đức N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Nguyễn Đức N.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Bách.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Linh và bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sáng- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9- Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hương- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9- Hải Phòng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 23/7/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30/7/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 22/9/1994.
CCCD số: xxxxxxxxxxxx.
HKTT: Tổ dân phố B, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng.
Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng.
Vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức N, sinh ngày 10/11/1997.
CCCD số: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Đức N được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức đăng ký tại UBND xã L, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng) ngày 01/11/2023 và hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cưới chị H về nhà anh N tại thôn B, xã L chung sống. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống không đồng nhất. Chị H phát hiện anh N sử dụng ma túy, chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần đã phải bỏ đi làm ăn xa và còn có quan hệ nam nữ không đúng đắn với người khác, chị H đã phải đưa con về nhà đẻ tại thôn T sống ly thân nhau từ tháng 10/2024 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H xin được ly hôn với anh Nguyễn Đức N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 18/9/2024. Hiện con đang sống với chị H tại nhà ngoại tại thôn T. Khi ly hôn nguyện vọng của chị H xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con vì thực tế anh N hiện nay không có điều kiện và đang nợ nần.
Về quan hệ tài sản, vay nợ, công sức chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Đức N đã được Tòa án triệu tập hợp nhưng không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh N theo quy định của pháp luật.
Tại bản tường trình và đề nghị ngày 31/7/2025, anh N xác định:
Đã nhận được Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo phiên hòa giải; Quyết định xét xử của Tòa án.
Do công việc không thể đến Tòa án làm việc và giải quyết vụ án được. Vì vậy bằng văn bản này xin tự khai và đề nghị như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức đăng ký tại UBND xã L, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng) ngày 01/11/2023 và hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cưới chị H về nhà anh chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn. Do anh làm ăn không được thuận lợi, phải vay nợ nhiều nên hiện nay phải đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về nhà. Còn chị H sau khi sinh con đã về nhà đẻ tại thôn T sinh sống. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị H có yêu cầu ly hôn nên anh đồng ý ly hôn với chị H.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Nguyễn Quỳnh A-sinh ngày 18/9/2024. Hiện con đang sống với chị H. Khi ly hôn anh cũng có nguyện vọng nuôi con nhưng hiện nay anh đang phải đi làm xa và con còn nhỏ nên đồng ý giao con cho chị H nuôi dưỡng.
Về tài sản, công sức, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì điều kiện công việc nên anh đề nghị Tòa án gửi các văn bản tố tụng cho anh. Anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Những người làm chứng gồm bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ chị H, mẹ vợ anh N), bà Trần Thị X (mẹ đẻ anh N, mẹ chồng chị H) đều trình bày: Chị H và anh N kết hôn và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2023. Sau ngày cưới chị H về nhà anh N tại thôn B chung sống. Quá trình chung sống thì không có mâu thuẫn lớn nhưng do anh N ham chơi nên dẫn tới vỡ nợ, phải bỏ đi làm ăn xa từ tháng 8/2024 đến nay, thỉnh thoảng mới về nhà. Chị H đưa con về nhà đẻ tại thôn T sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay.
Trưởng khu dân cư B cung cấp: Anh Nguyễn Đức N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Do anh N đi làm ăn xa vắng mặt tại nhà, thỉnh thoảng có về rồi lại đi, không cắt chuyển khẩu hoặc khai báo tạm vắng. Hiện nhà anh N có bố mẹ đẻ còn vợ là chị Nguyễn Thị H đã đưa con về ở nhà ngoại tại thôn T từ tháng 9/2024 đến nay.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Nguyễn Đức N vắng mặt có ý kiến trình bày xin Tòa án xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Hải Phòng bày tỏ quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án trong quá trình thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng tại phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đường lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Nguyễn Đức N. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quỳnh A- sinh ngày 18/9/2024 đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị H không yêu cầu và được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được cản trở. Về công sức, tài sản, vay nợ chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H chịu 300.000đ án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự, người làm chứng được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
1.1. Bị đơn anh Nguyễn Đức N đăng ký thường trú và cư trú tại thôn B, xã L, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là tổ dân phố B, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9- Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2. Nguyên đơn, bị đơn, người tham gia tố tụng khác đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa hợp lệ.
1.3. Bị đơn anh Nguyễn Đức N, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có ý kiến xin xét xử vắng mặt; Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đức N, được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức đăng ký tại UBND xã L, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng) ngày 01/11/2023 và hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống nên là hôn nhân hợp pháp.
. Xem xét về quá trình chung sống, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H và anh N thấy rằng: Từ khi kết hôn năm 2023 và quá trình chung sống vợ chồng đã có mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống không đồng nhất, bất đồng quan điểm phát triển kinh tế; anh N ham chơi đã phải bỏ nhà đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà vụng trộm, bỏ mặc chị H nuôi con nhỏ và về bên ngoại ở nhờ, hai bên sống ly thân nhau từ tháng 9/2024 đến nay. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N như trên không thể hiện sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; c ng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm ngh a vụ vợ chồng; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được như quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H ly hôn với anh Nguyễn Đức N.
. Về con chung: Xác định chị H và anh N có 01 con chung là Nguyễn Quỳnh A- sinh ngày 18/9/2024. Hiện con đang sống với chị H và gia đình bên ngoại ổn định tại tổ dân phố T. Khi ly hôn nguyện vọng của chị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung c ng vì con thì còn nhỏ, anh N thì không có trách nhiệm và thực tế mình chị được gia đình hỗ trợ chăm sóc; anh N đồng ý giao con cho chị H vì con còn nhỏ và đang ở với chị H ổn định. Vì vậy, cần giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến khi đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị H không yêu cầu và anh N được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được cản trở là ph hợp thực tế ph hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản, vay nợ, công sức chung: Chị H và anh N đều không yêu cầu. Nên, Tòa án không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị H, Bị đơn anh N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Nguyễn Đức N.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quỳnh A- sinh ngày 18/9/2024 đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản, công sức, vay nợ: Không giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu ký hiệu BLTU/25E số 0000043, ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; chị H đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị H; bị đơn anh N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 9- Hải Phòng; - THADS TP. Hải Phòng; - UBND phường Trần Hưng Đạo (q/l hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Bách |